CHƯƠNG 1 CH Ữ HÁN VÀ THỰC TR Ạ NG H Ọ C CH Ữ HÁN Ở VI ỆT NAM 1.1 Khái lược chữ Hán 1.1 Nguồn gốc Chữ Hán có nguồn gốc từ Trung Quốc, cụ thể là từ các hình vẽ. Trên con đường tạo ra chữ viết, người Trung Quốc cổ dựa vào sự quan sát mọi thứ quanh họ, sau đó chuyển chúng dưới dạng hình vẽ để biểu đạt ý nghĩa nên chữ Hán còn được biết đến cơ bản là chữ biểu ý. Về nguồn gốc của chữ Hán, có vô số các truyền thuyết được lưu truyền, trong đó không thể không nhắc đến thuyết “Thương Hiệt tạo chữ”. Tương truyền rằng Thương Hiệt là một người rất thần kỳ và đặc biệt là ông có bốn con mắt.
Vì thế việc có thể quan sát hết tất cả mọi thứ trên trần đời này đối với ông là một việc hết sức hiển nhiên. Từ những vì sao trên bầu trời rộng lớn, những dấu chân từ nhỏ đến lớn của muôn vật, ông cảm nhận được chúng có các hình dáng khác nhau, có thể phân biệt được. Điều đó đã giúp ông trong công cuộc tạo ra các con chữ. Nhưng cũng vì đó là truyền thuyết, nên khi chúng ta nhìn lại vẫn thấy khó mà tin được.
Thực tế, chữ Hán được tạo ra do nhu cầu trong cuộc sống lúc bấy giờ của tổ tiên người Trung Quốc. Song, thuyết “Thương Hiệt tạo chữ” đã để lại cho đời sống một giá trị vô cùng lớn trong việc tìm lại sự khởi nguồn của chữ Hán. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong sự nghiệp nghiên cứu sự phát triển của chữ Hán. Những năm gần đây, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra ở trên các mai rùa, xương động vật, đồ đá, đồ gốm,… được khai quật ở khắp nơi của Trung Quốc (Ninh 9 0 0 Hạ, Hà Nam) có các ký tự giống như hình vẽ được kh ắc trên đó.
Từ đây các nhà khảo cổ có thể ước lượng được thời gian xuất hiện của chữ Hán ở Trung Quốc là vào khoảng 1800 năm Trước Công Nguyên, vào thời kỳ nhà Thương. Những chữ viết đó được gọi là Giáp cốt văn (chữ Giáp cốt). Cho đến nay, chữ Giáp cốt được cho là văn tự cổ nhất hiện nay của chữ Hán.2 Quá trình phát triển Quá trình phát triển chữ Hán là một quá trình phát triển lịch sử lâu dài. Hình thể của chữ Hán qua hơn 3.000 năm đã trải qua quá trình diễn biến từ Giáp cốt văn, Kim văn, Tiểu triện, Lệ thư và Khải thư.
Vào thời nhà Thương (1600 - 1046 Trước Công Nguyên) và Tây Chu (1046 - 771 Trước Công Nguyên) đã xuất hiện một loại văn tự cổ xưa, khá giống với hình vẽ, là một hệ thống chữ viết tương đối hoàn chỉnh. Đây là loại chữ viết được coi là hợp thể của hình, âm và nghĩa. Loại chữ này được khắc trên mai rùa và xương thú nên gọi là Giáp cốt văn. Kim văn phát triển từ Giáp cốt văn, có hình thể còn khá giống hình vẽ nhưng cân đối và đẹp hơn Giáp cốt văn, có nét bút tròn và to hơn.
Kim văn được khắc trên đồ đồng thau, chủ yếu là trên các đồ cúng tế như chung và đỉnh đồng vào thời kỳ Thương – Chu. Do thời đó gọi đồng là “kim”, nên đã gọi những chữ trên đồ đồng thau là “Kim văn”, ngoài ra còn được gọi là “Chung đỉnh văn”. Vào thời kỳ Chiến quốc (475 - 221 năm Trước Công Nguyên), do hình thể của chữ Hán không thống nhất, chữ dị thể quá nhiều, cùng một chữ nhưng ở các nước Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu, Tần mỗi nước đều có cách ghi và âm đọc khác nhau. Cho nên sau khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng đã thi hành chính sách “Thư Đồng Văn”, thống nhất lại chữ viết, và thế là chữ Tiểu triện ra đời.
Những loại chữ Giáp cốt văn, Kim văn, Chiến quốc văn được gọi chung là “Đại triện”, còn loại chữ viết được Tần Thủy Hoàng thống nhất có hình thể giản lược hơn nên được gọi là “Tiểu triện”. Chữ Tiểu triện lưu hành 10 0 0 đến những năm cuối thời Tây Hán và là giai đoạn cuối của cổ văn tự Trung Quốc. Vào thời Tần, có một chữ thể viết lưu hành song song với chữ Tiểu triện, đó là Lệ thư. Thời kỳ đó, các văn bản được viết bằng bút lông trên thẻ tre, nhằm nâng cao tốc độ viết chữ, những viên chức cấp thấp phụ trách viết công văn đã viết chữ Tiểu triện theo cách viết trong dân gian và đã tạo ra Lệ thư.
Đến thời Hán thì Lệ th ư hoàn toàn hoàn thiện, nét bút tương đối bằng, thẳng, hình thể được đơn giản hóa, hoàn toàn không còn giống hình vẽ. Lệ thư biến thành loại chữ viết thuần túy là ký hiệu, kết thúc giai đoạn cổ văn tự và bắt đầu giai đoạn kim văn tự. Và thể chữ ở giai đoạn cuối của diễn biến chữ Hán chính là Khải thư. Khải thư diễn biến từ Lệ thư, do hình thể đoan chính, vuông vức, góc cạnh rõ ràng, nét bút ngay thẳng có thể làm “Khải mô” (khuôn phép, mẫu mực) để học tập viết chữ nên được gọi là “Khải thư” hay còn được gọi là “Chân thư” hoặc “Chính thư”.
Ngoài ra còn có 2 thể chữ viết khác là Thảo thư và Hành thư. Thảo thư là cách viết giản lược và viết liền của Lệ thư, phá vỡ khối hình vuông của chữ Hán. Hành thư, xuất hiện vào thời Đông Hán, được hình thành từ cách viết nhanh của chữ Khải, không chỉnh tề như Khải th ư nhưng cũng không thô lược như Thảo thư, rất dễ đọc.1 Chữ Hán được tạo ra từ lục thư Lục thư là một hệ thống bao gồm 6 phương pháp cấu tạo chữ Hán. Lục thư phân tích cấu tạo, cách hình thành và phương pháp sử dụng chữ Hán, bao gồm: tượng hình, chỉ sự, hội ý, hình thanh, chuyển chú và giả tá.
Tượng hình(象形) 11 0 0 Chữ tượng hình là cơ sở để hình thành và phát triển hệ thống chữ Hán, là phương pháp tạo chữ sử dụng nét bút để vẽ ra hình dạng của sự vật hiện tượng, tương đối giống với hình vẽ. Chữ tượng hình qua nhiều cuộc biến đổi, từ những hình vẽ cụ thể ban đầu dần được đường nét hóa, nét bút hóa. Chữ tượng hình hiện nay mang tính tượng trưng cao nhưng vẫn miêu tả được những đặc trưng điển hình của sự vật, hiện tượng. Ví dụ: chữ “khẩu” (口 - cái miệng) có hình hình dạng như cái miệng đang mở rộng; chữ “mục” (目 - con mắt) có hình dạng con mắt với đồng tử ở giữa.
Chỉ sự (指事) Chỉ sự là phương pháp tạo chữ, được hình thành dựa trên hệ thống chữ tượng hình, bằng cách sử dụng kí hiệu để chỉ ra sự vật hiện tượng, nhìn chữ có thể đoán được nghĩa. Chữ chỉ sự hình thành bằng hai cách: - Dựa trên cơ sở của chữ tượng hình vẽ thêm kí hiệu tạo thành chữ chỉ sự, chỉ ra ý nghĩa muốn biểu đạt. Ví dụ: từ chữ 木 (mộc - cây) thêm một nét bên trên để chỉ ngọn cây 末, thêm một nét bên dưới để chỉ gốc cây 本; 刀 (đao - con dao) thêm một nét để chỉ lưỡi dao 刃,. - Sử dụng kí hiệu đơn mang tính tượng trưng để chỉ khái niệm, con số.
Hội ý (会意) Hội ý là phương pháp tạo chữ bằng cách kết hợp từ hai trở lên các chữ tượng hình để tạo thành một chữ mới, có âm - nghĩa mới. Chữ hội ý gồm 2 cách thức cấu tạo chính: - Chữ hội ý đồng thể: tạo chữ bằng cách kết hợp từ 2 chữ Hán giống nhau trở lên. Ví dụ: 森, 炎, 比,. - Chữ hội ý dị thể: tạo chữ bằng cách kết hợp từ 2 chữ Hán khác nhau trở lên.
Ví dụ: 看 (nhìn) được kết hợp bởi bộ 手 (cái tay) và 目 (con mắt) để gợi hình 12 0 0 ảnh lấy tay che mắt để nhìn được xa hơn; 卡 (mắc kẹt) không 上 (lên, trên) cũng không 下 (xuống, dưới) miêu tả trạng thái bị kẹt ở giữa. Cụ thể hơn, hình bàng cho biết ý nghĩa khái quát nhất và thường là chữ tượng hình, thanh bàng cho biết âm thanh giống hoặc gần giống của từ, có thể là chữ chỉ sự, hội ý hoặc hình thanh. Có 6 vị trí sắp xếp của hình bàng và thanh bàng để tạo ra được một chữ hình thanh: - Hình trái thanh phải: 江, 河, 妈, 娘,. - Hình phải thanh trái: 政, 攻, 领, 功,.
- Hình trên thanh dưới: 笙, 宇, 零, 草,. - Hình dưới thanh trên: 志, 忠, 忍, 婆,. - Hình ngoài thanh trong: 园, 固, 圆, 阁,. - Hình trong thanh ngoài: 问, 闻,.
Chuyển chú ( 转注) Chuyển chú là không phải là phương pháp tạo chữ mà là phương pháp dùng chữ, “chuyển chú” tức là chú giải nghĩa lẫn nhau. Nói cách khác, chuyển chú là việc ứng dụng văn tự để tiện nhớ chữ, sử dụng cũng như giải thích chữ. Chuyển chú là hình thức “dị âm đồng nghĩa”, các chữ có liên quan hoặc tương đồng nhau về nghĩa nhưng có thể gần giống hoặc khác nhau hoàn toàn về mặt âm thanh cũng như hình thể. Các cặp từ chuyển chú thường được dùng trong tự điển để giải nghĩa cho nhau.
Ví dụ: 江 - 河 (dòng sông), 京 - 都 (kinh đô), 老 - 考 (chỉ người già),. Giả tá(假借) 13 0 0 “Giả tá” tức là vay mượn, chữ giả tá theo như Hứa Thận định nghĩa “vốn không có chữ, nhờ thanh mà gởi sự”. Giả tá được sử dụng bằng cách khi có từ mới xuất hiện đã có âm đọc nhưng chưa có chữ viết, thay vì tạo ra một chữ mới để thể hiện ý nghĩa của nó, người ta sẽ mượn một từ đồng âm có sẵn để biểu đạt. Ví dụ: 打 “dǎ” nghĩa động từ là “đánh”, người ta mượn chữ để biểu đạt giới từ có nghĩa là “bắt đầu từ… ” chỉ sự khởi điểm về thời gian, không gian.
Sau này mượn thêm để chỉ “tá” (số lượng 12 cái, hoặc chỉ một bầy, một đám). Giả tá xuất hiện giúp làm giảm bớt số lượng chữ Hán được tạo ra thêm, bởi nếu mỗi chữ mới xuất hiện lại tạo ra một văn tự mới thì khó có thể đặt cho đủ chữ. Tuy nhiên, trong khi sử dụng xảy ra nhiều hạn chế, dẫn đến việc là sự ra đời của hàng loạt chữ hình thanh. Đa số các chữ hình thanh ra đời là nhờ vào giả tá, nói cách khác, giả tá đã thúc đẩy sự hình thành và phát triển của chữ hình thanh.2 Những nét cơ bản của chữ Hán và cách viết Chữ Hán hiện nay có hình thể khối vuông, được cấu thành bởi nét bút và kết cấu hình thể có ba tầng bậc: nét bút – bộ kiện – chữ hoàn chỉnh.