Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát địa bàn nghiên cứu. Chương 2: Tập quán sinh đẻ và chăm sóc trẻ nhỏ truyền thống Chương 3: Biến đổi và một số vấn đề đặt ra. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản - Hôn nhân: Theo Từ điển Tiếng Việt, “Hôn nhân có nghĩa là việc kết hôn giữa nam và nữ” [66, tr.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam 2: “Hôn nhân là thể chế xã hội kèm theo những nghi thức xác nhận quan hệ tính giao giữa hai hay nhiều người thuộc hai giới tính khác nhau (nam, nữ), được coi nhau là chồng và vợ, quy định mối quan hệ và trách nhiệm với nhau và giữa họ với con cái của họ. Sự xác nhận đó, trong quá trình phát triển của xã hội, dần dần mang thêm những yếu tố mới. Dưới xã hội nguyên thuỷ, hôn nhân tiến hành theo luật tục. Trong các xã hội có giai cấp và nhà nước, hôn nhân phải được pháp luật công nhận, do đó quyền hạn và nghĩa vụ, trách nhiệm của vợ chồng con cái cũng được pháp luật xác định và bảo đảm.
Có những trường hợp hôn nhân phải được tiến hành ở nhà thờ, phải tuân theo những nghi thức tôn giáo nhất định để được giáo hội công nhận [65, tr. Theo quy định tại Điều 3, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”. Qua một số định nghĩa đã đề cập ở trên, có thể rút ra: Hôn nhân là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ/chồng, được cộng đồng hay pháp luật công nhận, chịu sự ràng buộc với nhau về quyền và nghĩa vụ theo quy định của cộng đồng hay pháp luật. - Gia đình: Là khái niệm thường dùng để chỉ một nhóm người được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân.
Ngày nay, quan niệm về gia đình không chỉ đóng khung trong những mối liên quan về huyết thống, hôn nhân mà còn mở ra trên một phạm vi rộng lớn hơn, đó là những người có quan hệ nuôi dưỡng, có tình yêu thương, tương trợ lẫn nhau. Gia đình luôn biến đổi, phát triển cùng với sự phát triển của lịch sử, điều kiện kinh tế, văn hóa, tư tưởng, tình cảm… của xã hội. Vì vậy, mỗi giai đoạn lịch sử lại có các hình thái gia đình khác nhau và theo đó có nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về gia đình.Marx trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức (1845) khi luận chứng về tiền đề và điều kiện cho sự tồn tại của con người đã cho rằng: “Hằng ngày khi tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy nở. Đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ con cái, đó là gia đình” [8; tr.
Trong bản Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 đã xác định: “Gia đình là tế bào tự nhiên và cơ bản của xã hội, được nhà nước và xã hội bảo vệ" [35, Điều 16]. Quan điểm này thể hiện rõ sự gắn kết mật thiết giữa gia đình và xã hội, khẳng định vai trò của gia đình đối với xã hội. Ở Việt Nam, khi nghiên cứu về gia đình và vai trò của gia đình, tác giả Lê Thi cho rằng: Khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà); đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số người được nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống nhưng các thành viên gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm), giữa họ thường có những điều ràng buộc có tính pháp lý, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ, được ghi rõ trong Luật Hôn nhân và Gia đình của nước ta [72]. Còn theo Luật Hôn nhân và Gia đình (số 52/2014/QH13) ngày 19 tháng 06 năm 2014, nêu rõ: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định”.
- Hỗn hợp: Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2008 của Viện Ngôn ngữ học thì hỗn hợp có nghĩa là không thuần nhất, có các thành phần khác nhau. Hôn nhân hỗn hợp là hôn nhân giữa những người có tôn giáo hoặc quốc tịch khác nhau. Hôn nhân hỗn hợp dân tộc là những người kết hôn với nhau làm vợ chồng không cùng tộc người [66; tr. Qua một số khái niệm và quan điểm đã đề cập ở trên, chúng tôi nhận thấy, hầu hết các khái niệm đều cho rằng: Gia đình là một thiết chế xã hội, được hình thành trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng, các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm, 12 quyền lợi, nghĩa vụ, được dòng họ, cộng đồng và pháp luật thừa nhận, bảo vệ.
Trên cơ sở kế thừa các quan điểm, các khái niệm trên về gia đình, có thể rút ra cách hiểu chung nhất như sau: Gia đình là một nhóm hai hay nhiều người hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, có sự gắn bó mật thiết với nhau về tình cảm, kinh tế, trách nhiệm, quyền lợi, được dòng họ, cộng đồng và luật pháp thừa nhận, bảo vệ. Gia đình hôn nhân hỗn hợp dân tộc: Là một hay nhiều người trong cùng một gia đình thuộc các thành phần dân tộc khác nhau được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống, có sự gắn bó mật thiết với nhau về tình cảm, kinh tế, trách nhiệm, quyền lợi, được dòng họ, cộng đồng và luật pháp thừa nhận, bảo vệ. - Tập quán: Theo Từ điển Tiếng Việt, tập quán là thói quen hình thành lâu đời và đã trở thành nếp trong đời sống xã hội của một cộng đồng dân cư, được mọi người công nhận và tuân theo [66, tr. Phong tục, tập quán được hình thành trong quá trình sản xuất, trong quản lý xã hội, trong đời sống hàng ngày của các cộng đồng xã hội, được truyền từ đời này qua đời khác, ăn sâu vào trong đời sống của con người, mang đậm bản sắc dân tộc.
Phong tục, tập quán có thể ở một dân tộc, địa phương, tầng lớp xã hội hay thậm chỉ một dòng họ, gia tộc. Phong tục, tập quán, có tính tương đối bền vững, tuy nhiên bên trong các phong tục tập quán luôn có sự vận động, đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, có sự giao thoa và ảnh hưởng nhất định giữa các cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng, dân tộc, vùng miền,. Ở mỗi địa phương, dân tộc, tầng lớp xã hội có những phong tục, tập quán riêng, phong tục tập quán tuy không mang tính bắt buộc nhưng thường được cộng đồng tuân theo và thực hiện. - Nghi lễ: Từ “Nghi lễ” bắt nguồn từ tiếng Latin là “ritus” nghĩa là hành vi có trật tự.
Về mặt ý nghĩa của từ này các nhà nhân học đã đưa nhiều định nghĩa khác nhau về nghi lễ. Robert Smith (1889) giả thuyết rằng tôn giáo bao gồm niềm tin và nghi lễ. Trong khi Durkheim (1912) cho rằng nghi lễ là hoạt động chỉ ra những quy định con người biết để tự điều chỉnh hành vi ứng xử của mình trước những đối tượng thiêng. Theo Từ điển Tiếng Việt "Nghi lễ là lề lối, phép tắc trong việc lễ.
Lễ là phép tắc phải tuân theo khi thờ cúng tổ tiên, quỉ thần hoặc giao tế trong xã hội. Nghi lễ là nghi thức và trình tự tiến hành của một cuộc lễ" [66, tr. 13 Theo tác giả Song Hà (2011), "Nghi lễ là biểu hiện mọi khía cạnh của đời sống vật chất và tinh thần của con người, tộc người, do đó dù một hình thái xã hội nào, nghi lễ cũng có tính tộc người. Hơn thế nữa, dù tồn tại lâu dài, truyền từ đời này qua đời khác trong mỗi cộng đồng tộc người cụ thể, song không phải nghi lễ nào cũng trở thành bất di bất dịch mà nó luôn có sự biến đổi, một số nghi lễ mất đi, một số nghi lễ mới nảy nở.
Tùy từng hoàn cảnh, tình huống cụ thể mà mỗi thế hệ có những thái độ khác nhau đối với những nghi lễ hiện có. Do đó, nghi lễ của mỗi thế hệ không phải là những khuôn mẫu không có chút thay đổi". Từ những định nghĩa, quan điểm trên về nghi lễ, có thể hiểu: Nghi lễ là hoạt động xã hội, thể hiện sự giao tiếp ứng xử của con người trong xã hội, trong tín ngưỡng, trong sinh hoạt tôn giáo, có tính chất tâm linh, trang trọng và phải tuân theo những nghi thức, phép tắc nhất định. Còn Nghi lễ trong sinh đẻ và chăm sóc trẻ nhỏ: Là những nghi thức, phép tắc thực hiện cho người phụ nữ từ khi mang thai đến khi sinh con và bảo vệ, chăm sóc đứa trẻ đến khi được 6 tuổi nhằm mục đích mang đến những điều may mắn, tốt đẹp cho bà mẹ, đứa trẻ, gia đình và xã hội.
Lý thuyết về nghi lễ chuyển đổi Nghi lễ chuyển đổi được nhà nhân học người Bỉ Arnold Van Gennep (1873-1975) phân tích có hệ thống trong tác phẩm bằng tiếng Pháp Les rites de passage, xuất bản năm 1909. Arnold Van Gennep cho rằng “những thay đổi trạng thái của con người làm khuấy động cuộc sống cá nhân và xã hội và để giảm thiểu các tác hại của những thay đổi đó mà một số nghi lễ chuyển đổi ra đời”. Hầu hết những nghi lễ chuyển đổi được chia thành ba giai đoạn chính: phân ly (trước ngưỡng), chuyển tiếp (trong ngưỡng) và hội nhập (sau ngưỡng). Trong các nghi lễ chuyển đổi về sự thay đổi lãnh thổ; những cá nhân gia nhập nhóm; thụ thai và sinh con; sự chào đời và tuổi niên thiếu; thành đinh; đính hôn và kết hôn; lễ tang; lễ động thổ và khánh thành; cắt tóc lần đầu; những nghi lễ gắn với sự thay đổi của tháng, mùa, năm, lễ tạ ơn, nghi thức giao mùa.
thì nghi lễ khi thụ thai và sinh con được xem là rất quan 14 trọng đối với cá nhân và gia đình. Có những dân tộc xem người phụ nữ mang thai là ô uế, và sự ô uế đó sẽ truyền cho đứa trẻ, vì vậy người mẹ phải chấp hành những điều cấm kỵ, là giai đoạn cuối cùng để người phụ nữ trở về xã hội sau khi sinh.