Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Thực trạng tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Giải pháp tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TẠO VIỆC LÀM BỀN VỮNG CHO LAO ĐỘNG THANH NIÊN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Tình hình nghiên cứu trong nước có liên quan đến tạo VLBV cho thanh niên trong bối cảnh hội nhập rất đa dạng.
Có thể phân loại thành hai nhóm chủ đề sau: 1. Nghiên cứu về các vấn đề lý thuyết về tạo việc làm bền vững nói chung và cho lao động thanh niên nói riêng trong bối cảnh hội nhập - Viện Khoa học lao động và Xã hội (2016), báo cáo: “Đánh giá tác động của Hội nhập quốc tế đối với lĩnh vực lao động-xã hội ở Việt Nam” [92]. Về lý luận, báo cáo đã chỉ ra các kênh tác động của hội nhập đến TTLĐ như: (i) Quá trình thu hút đầu tư và xúc tiến thương mại giúp nền kinh tế phát triển và có khả năng tạo thêm nhiều việc làm, cải thiện thu nhập cho người lao động, cải thiện năng suất lao động (NSLĐ); (ii) tuân thủ các tiêu chuẩn lao động quốc tế và đảm bảo các quyền của người lao động đã trở thành xu thế trong hợp tác và thương mại quốc tế. Tuy nhiên, báo cáo cũng cho thấy hội nhập cũng tạo ra nhiều thách thức về chất lượng nguồn nhân lực (NNL), các vấn đề về lao động di cư, bất bình đẳng, hệ thống an sinh xã hội,…Đặc biệt, đối với các nền kinh tế đang phát triển, việc làm có xu hướng gia tăng, song tập trung chủ yếu trong các ngành sử dụng nhiều lao động, yêu cầu kỹ năng thấp; mức tiền lương có xu hướng tăng song chủ yếu trong nhóm lao động gắn với xuất nhập khẩu và lao động có trình độ tay nghề cao.
Báo cáo đã cung cấp các thông tin quan trọng cho việc xây dựng và phát triển khung lý thuyết của luận án. - Nguyễn Bao Cường, Đào Ngọc Nga, Tống Thị Mai Hồng và Nguyễn Văn Hưng (2014), tài liệu: “Bộ công cụ đánh giá nhanh về VLBV trong các chương trình/chính sách phát triển của ngành/địa phương” [53]. Tài liệu được xây dựng trên cơ sở kế thừa, rút gọn và Việt hóa, sắp xếp lại các đề mục trên cơ sở “Bộ công cụ Lồng ghép việc làm và VLBV - áp dụng ở cấp quốc gia” năm 2008 của ILO để phù hợp hơn với cách hiểu của Việt Nam và cấp độ đánh giá. Tài liệu tập trung làm rõ các cấu phần của VLBV, các chỉ tiêu đo lường và các chiến lược thúc đẩy VLBV cho người lao động nói chung.
Đây là tham khảo tốt cho luận án để phát triển hệ thống chỉ số VLBV của lao động thanh niên. 10 - Nguyễn Văn Thắng (2014), Luận án tiến sỹ kinh tế “Chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi đất của Hà Nội” [62] đã làm rõ các yếu tố ảnh hưởng tới chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi đất như các yếu tố chính trị-pháp lý, các yếu tố kinh tế, các yếu tố văn hoá, xã hội, toàn cầu hoá và hội nhập KTQT. Trong đó, Luận án cũng chỉ ra toàn cầu hoá và hội nhập KTQT tạo ra nhiều cơ hội và cả thách thức đối với chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn, cụ thể: (i) đó là cơ hội lớn cho các nước đang phát triển tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, góp phần giải quyết việc làm cho lao động trong nước; (ii) HNQT đỏi hỏi NNL chất lượng cao cho các ngành kinh tế, nhất là các ngành công nghệ cao; (iii) HNQT cũng tạo ra các thách thức khi doanh nghiệp và người lao động trong nước phải cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, điều này có thể ảnh hưởng đến cung và cầu việc làm; không ít thanh niên đang làm việc ở nước ngoài cũng phải trở về nước. Trong bối cảnh đó, chính sách tạo việc làm cho thanh niên nông thôn càng chịu nhiều áp lực.
- Triệu Đức Hạnh (2013), Luận án tiến sỹ kinh tế “Tạo VLBV cho lao động nông thôn” [83]. Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận của tạo VLBV cho lao động nông thôn và sự cần thiết phải tạo VLBV cho lao động nông thôn. Tác giả Luận án cho rằng VLBV được hình thành từ 5 yếu tố (i) Quyền tại nơi làm việc; (ii) Ổn định việc làm và thu nhập; (iii) Tạo và xúc tiến việc làm; (iv) Bảo trợ xã hội; (v) Đối thoại xã hội. Để tạo ra VLBV phải củng cố 5 yếu tố trên.
Luận án cũng đã làm rõ các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho lao động nông thôn bao gồm: (i) Điều kiện tự nhiên, môi trường, sinh thái; (ii) Cơ chế chính sách của Nhà nước; (iii) Trình độ phát triển kinh tế; (iv) Dân số. Tuy nhiên, hạn chế của Luận án này mới chỉ tập trung vào lý luận về VLBV của lao động nông thôn và các nhân tố ảnh hưởng, chứ chưa làm rõ nội dung của tạo VLBV. - Ngô Quỳnh Anh (2013), Luận án tiến sỹ kinh tế “Tăng cường khả năng tự tạo việc làm của thanh niên” [61] đã đề cập đến lý thuyết tự tạo việc làm của thanh niên. Luận án hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận nghiên cứu về tự tạo việc làm nói chung, tự tạo việc làm của thanh niên nói riêng và các yếu tố ảnh hưởng thông qua xây dựng lần đầu tiên khái niệm sâu và đầy đủ về “tự tạo việc làm”, “khả năng tự tạo việc làm” và “tăng cường khả năng tự tạo việc làm”.
Luận án đã phân tích và đánh giá thực trạng tự tạo việc làm của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh nền KTTT và HNQT, đưa ra kết luận là khả năng này ở thanh niên Việt Nam còn chưa 11 cao, từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp tăng cường khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên. Nghiên cứu về thực trạng việc làm thanh niên và giải pháp tạo VLBV cho thanh niên trong bối cảnh hội nhập - Trịnh Thu Nga (2018), Báo cáo tư vấn quốc gia về “Thách thức việc làm thanh niên và chính sách phát triển doanh nghiệp trẻ Việt Nam” [125]. Báo cáo đã tập trung phân tích thực trạng việc làm thanh niên trong giai đoạn 2011-2015 cho thấy tỷ lệ thất nghiệp thanh niên còn cao, chất lượng việc làm còn thấp và tỷ lệ thanh niên thoái chí cũng khá cao. Báo cáo cũng chỉ rõ 4 nguyên nhân cơ bản: (i) chất lượng lao động thanh niên thấp; (ii) việc thực thi các chính sách, chương trình dạy nghề, hỗ trợ thanh niên tìm kiếm và tự tạo việc làm còn hạn chế do chưa đáp ứng nhu cầu thanh niên; (iii) thanh niên thiếu thông tin hay còn thụ động trong tìm kiếm các cơ hội việc làm; (iv) chiến lược việc làm cho thanh niên chưa được lồng ghép và chiến lược phát triển KT-XH.
Báo cáo cũng đưa ra các hàm ý chính sách về nâng cao vốn con người cho thanh niên, tăng cường kết nối việc làm và cải cách các chính sách, chương trình hỗ trợ thanh niên lập nghiệp và tự tạo việc làm. - Ngân hàng Thế giới (2017), Báo cáo “Tương lai việc làm Việt Nam: Khai thác xu hướng lớn cho sự phát triển thịnh vượng hơn” [51] đã cho thấy những thay đổi nhanh chóng của quá trình phát triển kinh tế-xã hội đã làm thay đổi bức tranh việc làm ở Việt Nam. Báo cáo đã chỉ ra các xu hướng lớn hiện nay có tác động đến tương lai việc làm của Việt Nam như: “Sự thay đổi các xu hướng thương mại và tiêu dùng, sự phát triển của nền kinh tế tri thức và tự động hóa; cách mạng công nghiệp 4.0; già hóa dân số có thể hoặc mang lại những cơ hội việc làm tốt hơn nhưng cũng có thể đe dọa đến chất lượng việc làm của Việt Nam”. Trong đó, những đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất đó chính là tầng lớp thanh niên- những người có khả năng học tập và thích ứng tốt hơn; phụ nữ - được đối xử bình đẳng hơn trong các cơ hội việc làm.
Báo cáo đã nhấn mạnh tới cách chính sách của Việt Nam cần hướng tới nhằm giải quyết tốt 3 nhóm vấn đề lớn của lao động-việc làm hiện nay đó là: (i) tạo việc làm tốt trong nền kinh tế hiện đại; (ii) Nâng cao chất lượng việc làm trong nền kinh tế truyền thống; ( iii) Kết nối người lao động có trình độ với những việc làm phù hợp. Báo cáo tập trung phân tích các xu hướng chuyển tiếp từ trường học đến việc làm của thanh niên Việt Nam trong TTLĐ và cũng chỉ ra 12 những khó khăn của thanh niên trong hội nhập TTLĐ - kết quả điều tra cho thấy mối tương quan chặt chẽ giữa trình độ học vấn và thời gian chuyển tiếp sang TTLĐ của thanh niên. Kết quả điều tra cũng chỉ ra những hạn chế dai dẳng trong việc làm thanh niên như: sự không phù hợp với yêu cầu công việc, chưa tận dụng hết tiềm năng lao động và việc làm chất lượng thấp đối với thanh niên Việt Nam từ 15 đến 29 tuổi. Báo cáo cũng đưa ra một số khuyến nghị đối với TTLĐ trẻ của Việt Nam, trong đó nhấn mạnh vào sự hợp tác giữa Chính phủ, doanh nghiệp và công đoàn nhằm thúc đẩy VLBV cho thanh niên; phát triển kinh doanh với khu vực tư nhân là đầu tàu kiến tạo việc làm cho thanh niên.
- Nguyễn Thị Quỳnh Hoa và đồng nghiệp (2017), Báo cáo “Xu hướng dịch chuyển việc làm của thanh niên nông thôn hiện nay” [58] cho thấy việc làm của thanh niên nông thôn hiện nay bắt đầu có sự chuyển dịch việc làm mạnh mẽ từ khu vực nông nghiệp sang khu vực dịch vụ, công nghiệp; từ nông thôn ra thành thị. Tuy nhiên, chủ yếu vẫn là các công việc giản đơn như buôn bán, lao động làm thuê xây dựng, bốc vác, giúp việc gia đình, .