phần mở đầu, danh mục, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 03 chƣơng với những nội dung nhƣ sau: Chƣơng 1: Cở sở lý luận về tạo động lực lao động cho ngƣời lao động trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lực lao động cho ngƣời lao động tại công ty TNHH Xây dựng – Thƣơng mại – Dịch vụ Kim Lợi Chƣơng 3: Giải pháp tạo động lực lao động cho ngƣời lao động tại công ty TNHH Xây dựng – Thƣơng mại – Dịch vụ Kim Lợi 7 CHƢƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về vấn đề tạo động lực 1.1 Khái niệm động lực, động lực lao động và tạo động lực lao động 1. Động lực Theo Bedeian (1993), "Động lực là cố gắng để đạt mục tiêu của mỗi cá nhân". Kreitner (1995) cho rằng "Động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hƣớng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định".
Còn theo Higgins (1994), "Động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chƣa đƣợc thỏa mãn". Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hƣơng (2011) nói rằng động lực của ngƣời lao động đề cập đến các yếu tố bên trong khuyến khích mọi ngƣời làm việc chăm chỉ trong điều kiện tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Động lực là sự sẵn lòng của ngƣời lao động để làm việc chăm chỉ và có niềm đam mê hƣớng tới mục tiêu của tổ chức và của chính họ. Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hƣơng (Hành vi tổ chức, 2011, tr.85), “Động lực của ngƣời lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao” [24, tr.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ của bản thân ngƣời lao động Tất cả ngƣời lao động đều muốn khẳng định bản thân, thành công và kiếm đƣợc thu nhập ổn định trong cuộc sống cá nhân. Những ngƣời khác nhau sẽ có những mong muốn khác nhau dựa trên đặc điểm tâm lý và vị trí của họ. Ngƣời quản lý cần tác động đến từng ngƣời lao động một cách khác nhau. Bên cạnh đó, hiệu suất tích cực và hiệu quả cao đạt đƣợc thông qua động lực chủ động, và kết quả tích cực thu đƣợc nhờ tính chủ động.
Về động lực lao động của ngƣời lao động trong cơ quan, tổ chức có những đặc điểm sau: Đầu tiên, động lực có liên quan đến công việc, tổ chức và môi trƣờng làm việc. Không có động lực chung nào lại không gắn liền với một công việc cụ thể. Thứ hai, động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Điều này có nghĩa là không có ngƣời có động lực hoặc không có động lực.
Thứ ba, động lực làm tăng năng suất và hiệu quả công việc, các yếu tố khác 8 không đổi. Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực nhất thiết dẫn đến năng suất hoặc hiệu quả công việc, vì hiệu suất làm việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào kỹ năng, phƣơng tiện và nguồn lực của ngƣời lao động để hoàn thành nhiệm vụ. Thứ tƣ, ngƣời lao động có thể hoàn thành công việc của mình ngay cả khi không có động lực. Tuy nhiên, khi ngƣời lao động trở nên mất động lực hoặc không gắn kết, họ không mất khả năng thực hiện công việc nhƣng có nhiều khả năng rời bỏ tổ chức.
E (High involvement management: participative strategies for improving organizational performance, 1986) đề xuất mô hình thực hiện công việc nhƣ một hàm số của khả năng và động lực. Đặc biệt, khả năng làm việc còn phụ thuộc vào khả năng bẩm sinh. Kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm có đƣợc thông qua đào tạo. Nguồn lực để hoàn thành công việc.
Động lực là mong muốn tự phát của mỗi cá nhân. Nhƣ vậy, động lực là yếu tố bên trong kích thích mỗi cá nhân làm việc nhiệt tình, tự nguyện nhằm đạt đƣợc mục tiêu của bản thân và mục tiêu của tổ chức. Động lực lao động “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức” [7, tr. Một số đặc điểm của động lực lao động Động lực lao động luôn gắn liền với công việc, với tổ chức và với môi trƣờng làm việc cụ thể, không có động lực chung chung gắn với công việc cụ thể nào.
Động lực lao động đƣợc thể hiện trong một công việc cụ thể mà họ đảm nhận, trong thái độ của họ với tổ chức. Để tạo ra động lực lao động, nhà quản trị cần hiểu rõ công việc, môi trƣờng làm việc cũng nhƣ mối quan hệ của họ với tổ chức. Động lực không phải đặc điểm tính cách cá nhân. Nó không phải là cố hữu mà nó luôn luôn thay đổi tùy vào thời điểm.
Chính đặc điểm này mà nhà quản trị có thể can thiệp vào quá trình tạo động lực cho ngƣời lao động của mình. Động lực lao động mang tính tự nguyện. Ngƣời lao động có động lực lao động sẽ làm việc hết mình, làm việc một cách hăng say và có chủ đích hoàn toàn tự nguyện mà không hề cảm thấy phải chịu áp lực hay sức ép nào. Động lực lao động là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất cá nhân và sản xuất kinh doanh có hiệu quả trong điều kiện các nhân tố khác không đổi.
Động lực lao 9 động tạo nên sức mạnh vô hình bên trong con ngƣời thúc đẩy con ngƣời nỗ lực làm việc hơn, hăng say làm việc hơn. Tạo động lực lao động Tạo động lực lao động là việc áp dụng các chính sách, biện pháp và phƣơng pháp quản lý tác động đến ngƣời lao động, môi trƣờng làm việc và mối quan hệ của họ với những ngƣời khác nhằm tăng động lực và sự hài lòng trong công việc của ngƣời lao động. Việc nâng cao động lực lao động của ngƣời lao động khiến ngƣời lao động có động lực hơn để hoàn thành nhiệm vụ, đạt đƣợc mục tiêu của công ty và đáp ứng yêu cầu, từ đó làm tăng sự hài lòng trong công việc của ngƣời lao động, tăng sự cam kết của ngƣời lao động với công ty. Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hƣơng (2011) thì “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc”.
Hay theo Lê Thanh Hà (2009): “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức”. Để tăng động lực cho ngƣời lao động, cần phải hiểu mục tiêu mà ngƣời lao động đang hƣớng tới và tăng động lực cho họ. Động lực lao động không xảy ra một cách tự nhiên mà đƣợc tạo ra thông qua sự kết hợp đồng thời giữa các nguồn lực chủ quan của bản thân ngƣời lao động và các nguồn lực khách quan của môi trƣờng sống, làm việc. Công việc tạo động lực là việc thúc đẩy các hoạt động nhằm tác động đến nhu cầu của ngƣời lao động nhằm mang lại những thay đổi trong hành vi của họ hƣớng tới các mục tiêu mong muốn của tổ chức.
Ở bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần tạo ra động lực lao động cho ngƣời lao động. Ngƣời quản lý của các tổ chức muốn phát triển công ty của mình cần áp dụng các chính sách, biện pháp và công cụ quản lý phù hợp để thúc đẩy ngƣời lao động làm việc nhiệt tình. Vấn đề then chốt của động lực là hiểu đƣợc nhu cầu của ngƣời lao động và có biện pháp kích thích, động viên họ làm việc nhiệt tình trong quá trình làm việc. Các loại động lực lao động Thƣờng có hai loại động lực: động lực bên trong và động lực bên ngoài 10 Động lực bên ngoài: các yếu tố bên ngoài thúc đẩy ngƣời lao động hành động để hoàn thành nhiệm vụ hoặc mục tiêu công việc.
Chúng thƣờng là hình phạt hoặc phần thƣởng. Hình phạt thúc đẩy ngƣời lao động hành động để tránh bị trừng phạt, trong khi phần thƣởng thúc đẩy ngƣời lao động hành động để nhận đƣợc phần thƣởng. Động lực bên trong: Động lực xuất phát từ sự hài lòng của cá nhân với công việc đƣợc thực hiện. Khi một ngƣời làm tốt công việc hoặc đạt đƣợc mục tiêu đề ra, ngƣời đó cảm thấy hài lòng khi công việc của mình đóng góp đáng kể cho doanh nghiệp.
Động lực bên trong thƣờng hiệu quả hơn động lực bên ngoài vì nó xuất phát từ bên trong cá nhân chứ không phải do áp đặt lên cá nhân. Điều này có thể đạt đƣợc bằng cách trao quyền cho ngƣời lao động tự đƣa ra quyết định. Ngƣời lao động thƣờng hài lòng hơn với công việc của họ nếu họ có nhiều quyền kiểm soát và tự chủ hơn. Trao quyền cho ngƣời lao động sáng tạo và đổi mới cũng sẽ làm tăng sự hài lòng trong công việc và giúp kích thích động lực bên trong.
Các học thuyết về tạo động lực lao động 1. Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow Abraham Maslow (1908 – 1970) là nhà tâm lý học ngƣời Mỹ. Ông cho rằng, nhu cầu của con ngƣời phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất nhƣ sơ đồ dƣới đây:[3],[35].1 Tháp nhu cầu Maslow Nguồn: Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực[4, Tr.128] 11 Nhu cầu sinh lý đại diện cho những yêu cầu căn bản về ăn uống, nghỉ ngơi, và các nhu cầu cơ bản khác của cơ thể. Khi những nhu cầu này không đƣợc đáp ứng đủ để duy trì sự sống, các yêu cầu khác của con ngƣời không thể tiếp tục phát triển.
Nhu cầu an toàn là mong muốn có một môi trƣờng ổn định, an toàn, không bị đe dọa hoặc lo lắng về tƣơng lai. Nhu cầu xã hội bao gồm mong muốn có mối quan hệ với ngƣời khác, đƣợc thể hiện và chấp nhận tình cảm, sự chăm sóc và sự hợp tác. Nó có thể đƣợc mô tả là nhu cầu giao tiếp và kết nối với bạn bè. Nhu cầu đƣợc tôn trọng là mong muốn đƣợc công nhận và tôn trọng bởi ngƣời khác, cũng nhƣ tự tôn trọng bản thân.
Nhu cầu tự hoàn thiện đề cập đến việc phát triển và thúc đẩy bản thân, biến các tiềm năng thành hiện thực, hoặc đạt đƣợc những thành tựu có ý nghĩa.