Tạo Động Lực Lao Động Cho Điều Dưỡng Viên Trong Các Bệnh Viện Công Lập Tại Hà Nội

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tạo động lực lao động cho điều dưỡng viên tại bệnh viện công lập Hà Nội, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

Trường đại học

Đại học Lao động - Xã hội

Chuyên ngành

Quản trị nhân lực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

229
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

LỜI MỞ ĐẦU

0.1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.2.1. Mục đích nghiên cứu

0.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Câu hỏi nghiên cứu

0.4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.4.1. Đối tượng nghiên cứu

0.4.2. Phạm vi nghiên cứu

0.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

0.5.1. Về mặt học thuật, lý luận

0.5.2. Về mặt thực tiễn

0.6. Kết cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN

1.1. Tổng quan các nghiên cứu về động lực lao động và tạo động lực lao động trong tổ chức nói chung

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Quy trình nghiên cứu của luận án

2.2. Dữ liệu nghiên cứu

2.2.1. Dữ liệu sơ cấp

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Nghiên cứu định tính

2.3.2. Nghiên cứu định lượng

2.3.2.1. Thiết kế phiếu khảo sát
2.3.2.2. Phát triển thang đo
2.3.2.3. Thiết kế mẫu nghiên cứu
2.3.2.4. Thu thập và xử lý thông tin trong nghiên cứu định lượng chính thức
2.3.2.5. Thu thập và xử lý thông tin trong nghiên cứu định lượng bổ sung

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG CỤ TẠO ĐỘNG LỰC ĐẾN ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN BỆNH VIỆN CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI

3.1. Một số đặc điểm nguồn nhân lực điều dưỡng của nước ta

3.2. Đánh giá thực trạng động lực lao động của điều dưỡng viên trong các bệnh viện công lập trên địa bàn TP Hà Nội hiện nay

3.3. Đánh giá động lực lao động của điều dưỡng viên trong các bệnh viện công lập trên địa bàn TP Hà Nội theo mức độ gắn bó với công việc và bệnh viện

3.4. Đánh giá động lực lao động của điều dưỡng viên trong các bệnh viện công lập trên địa bàn TP Hà Nội theo “Sự nỗ lực trong công việc”

3.5. Đánh giá động lực lao động của điều dưỡng viên trong các bệnh viện công lập trên địa bàn TP Hà Nội theo mức độ hài lòng công việc

3.6. Đánh giá chung về động lực lao động của điều dưỡng viên trong các bệnh viện công lập trên địa bàn TP Hà Nội

3.7. Kết quả nghiên cứu định lượng chính thức về đánh giá tác động của các công cụ tạo động lực đến động lực lao động của ĐDV trong bệnh viện công lập trên địa bàn TP Hà Nội

3.7.1. Thống kê mô tả tổng thể mẫu nghiên cứu

3.7.2. Kiểm định độ tin cậy của các thang đo

3.7.2.1. Kiểm định Cronbach’s Anpha cho biến phụ thuộc
3.7.2.2. Kiểm định Cronbach’s Anpha cho biến độc lập

3.7.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

3.7.4. Kiểm định phương sai trích của các nhân tố

3.7.5. Kiểm định thang đo bằng phân tích yếu tố khẳng định (CFA)

3.7.6. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM

3.8. Thực trạng các công cụ tạo động lực tác động đến động lực lao động của điều dưỡng viên trong bệnh viện công lập trên địa bàn TP Hà Nội

3.8.1. Thù lao tài chính

3.8.2. Điều kiện và môi trường làm việc

3.8.3. Mối quan hệ với lãnh đạo

3.8.4. Đánh giá và ghi nhận thành tích

3.8.5. Đào tạo và phát triển nghề nghiệp

3.8.6. Mối quan hệ với đồng nghiệp

3.8.7. Quan hệ với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân

3.8.8. Trao quyền trong công việc

4. CHƯƠNG 4: LUẬN BÀN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO ĐIỀU DƯỠNG VIÊN TRONG BỆNH VIỆN CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI

4.1. Luận bàn về kết quả nghiên cứu

4.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao động lực lao động của điều dưỡng viên

4.2.1. Nhóm giải pháp về chính sách thù lao tài chính

4.2.2. Nhóm giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng và tạo cơ hội thăng tiến cho đội ngũ ĐDV

4.2.3. Hoàn thiện hoạt động đánh giá thực hiện công việc của điều dưỡng trong bệnh viện

4.2.4. Xây dựng văn hóa Bệnh viện để đẩy mạnh mối quan hệ hài hòa giữa các cá nhân trong bệnh viện

4.2.5. Cải thiện quan hệ giao tiếp giữa điều dưỡng với người bệnh và người nhà người bệnh

4.3. Một số kiến nghị

5. CHƯƠNG 5: PHẦN KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐƯỢC CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Tạo Động Lực Lao Động Cho Điều Dưỡng Viên Tại Bệnh Viện Công Lập Hà Nội

Tạo động lực lao động cho điều dưỡng viên là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại các bệnh viện công lập. Điều dưỡng viên đóng vai trò nòng cốt trong hệ thống y tế, và việc tạo động lực cho họ không chỉ giúp cải thiện tinh thần làm việc mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của bệnh nhân. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực lao động của điều dưỡng viên tại Hà Nội.

1.1. Định Nghĩa và Tầm Quan Trọng Của Động Lực Lao Động

Động lực lao động được hiểu là những yếu tố thúc đẩy nhân viên làm việc hiệu quả hơn. Đối với điều dưỡng viên, động lực này không chỉ đến từ thu nhập mà còn từ môi trường làm việc, sự công nhận và cơ hội phát triển nghề nghiệp.

1.2. Vai Trò Của Điều Dưỡng Viên Trong Hệ Thống Y Tế

Điều dưỡng viên là những người trực tiếp chăm sóc bệnh nhân, họ có trách nhiệm lớn trong việc đảm bảo sức khỏe và sự hài lòng của bệnh nhân. Sự hài lòng của điều dưỡng viên sẽ dẫn đến chất lượng dịch vụ y tế tốt hơn.

II. Vấn Đề và Thách Thức Trong Tạo Động Lực Lao Động Cho Điều Dưỡng Viên

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc tạo động lực cho điều dưỡng viên, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Các vấn đề như chính sách đãi ngộ chưa hợp lý, môi trường làm việc áp lực và thiếu cơ hội thăng tiến là những yếu tố cản trở động lực lao động của họ.

2.1. Chính Sách Đãi Ngộ Chưa Hợp Lý

Nhiều điều dưỡng viên cảm thấy mức lương và đãi ngộ không tương xứng với công sức họ bỏ ra. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu động lực và dễ dàng chuyển sang làm việc tại các cơ sở tư nhân.

2.2. Môi Trường Làm Việc Áp Lực

Điều dưỡng viên thường phải làm việc trong môi trường căng thẳng, với khối lượng công việc lớn và áp lực từ bệnh nhân. Điều này ảnh hưởng đến tinh thần làm việc và động lực của họ.

III. Phương Pháp Tạo Động Lực Lao Động Cho Điều Dưỡng Viên

Để nâng cao động lực lao động cho điều dưỡng viên, cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Các giải pháp này bao gồm cải thiện chính sách đãi ngộ, tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp và xây dựng môi trường làm việc tích cực.

3.1. Cải Thiện Chính Sách Đãi Ngộ

Cần xem xét và điều chỉnh chính sách lương thưởng để đảm bảo sự công bằng và hợp lý. Việc này sẽ giúp điều dưỡng viên cảm thấy được trân trọng và có động lực làm việc hơn.

3.2. Tạo Cơ Hội Phát Triển Nghề Nghiệp

Cung cấp các khóa đào tạo và cơ hội thăng tiến cho điều dưỡng viên sẽ giúp họ cảm thấy có giá trị và động lực hơn trong công việc.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu Về Động Lực Lao Động

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp tạo động lực lao động có thể cải thiện đáng kể tinh thần làm việc của điều dưỡng viên. Các bệnh viện công lập tại Hà Nội đã có những bước tiến trong việc cải thiện môi trường làm việc và đãi ngộ cho điều dưỡng viên.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Từ Các Bệnh Viện Công Lập

Nghiên cứu cho thấy rằng các bệnh viện áp dụng chính sách đãi ngộ tốt hơn đã ghi nhận sự gia tăng đáng kể trong sự hài lòng và động lực làm việc của điều dưỡng viên.

4.2. Ứng Dụng Các Giải Pháp Tạo Động Lực

Việc áp dụng các giải pháp như cải thiện môi trường làm việc và chính sách đãi ngộ đã giúp nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại các bệnh viện công lập.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Tạo Động Lực Lao Động Cho Điều Dưỡng Viên

Tạo động lực lao động cho điều dưỡng viên là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các giải pháp hiệu quả để đảm bảo sự hài lòng và động lực làm việc của điều dưỡng viên trong tương lai.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Động Lực Lao Động

Động lực lao động không chỉ ảnh hưởng đến điều dưỡng viên mà còn đến toàn bộ hệ thống y tế. Một đội ngũ điều dưỡng viên hạnh phúc sẽ mang lại dịch vụ chăm sóc tốt hơn cho bệnh nhân.

5.2. Định Hướng Tương Lai

Cần có những chính sách dài hạn và bền vững để tạo động lực cho điều dưỡng viên, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại các bệnh viện công lập.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

25/07/2025
Luận án tiến sĩ tạo động lực lao động cho điều dưỡng viên trong các bệnh viện công lập trên địa bàn thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN 1. Tổng quan các nghiên cứu về động lực lao động và tạo động lực lao động trong tổ chức nói chung Các tổ chức hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực ngành nghề với quy mô khác nhau, luôn cố gắng tạo ra mối quan hệ mạnh mẽ và tích cực với nhân viên của họ. Tuy nhiên, nhân viên có nhiều nhu cầu cạnh tranh khác nhau được thúc đẩy bởi các động cơ khác nhau.

Nếu một số nhân viên được thúc đẩy bởi phần thưởng thì những người khác tập trung vào thành tích hoặc cơ hội thăng tiến. Do đó, điều cần thiết đối với một tổ chức và các nhà quản lý là phải hiểu điều gì thực sự cần để thúc đẩy nhân viên của mình. Trong những năm qua, có rất nhiều các học giả nổi tiếng đã nghiên cứu sâu rộng về động cơ của con người và đã đưa ra nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau về động lực lao động và tạo động lực lao động. Buchbinder và cộng sự (2007) trong nghiên cứu của mình đã tiếp cận tạo động lực theo 3 cách [41]: - Tạo động lực lao động xuất phát từ nhu cầu của người lao động.

Trong cuộc sống và trong công việc, nhu cầu của người lao động không ngừng được gia tăng. Một khi nhu cầu không được thỏa mãn sẽ tạo ra căng thẳng và trạng thái mất cân bằng. Để khôi phục sự cân bằng, tổ chức cần phải giúp NLĐ thỏa mãn nhu cầu của mình. Abraham Maslow (1954) là tác giả nổi tiếng nhất của lý thuyết nhu cầu với quan điểm người lao động có năm mức độ nhu cầu được sắp xếp từ thấp đến cao: sinh lý, an toàn, xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện bản thân.

Maslow cho rằng nhu cầu cấp thấp hơn được thỏa mãn sẽ nảy sinh các nhu cầu khác cao hơn và khi đó sẽ tạo động lực cho người lao động [70]. Như vậy, dựa trên ý tưởng này, có thể cho rằng những nhu cầu không được thỏa mãn là yếu tố mạnh mẽ nhất mà các nhà quản lý và lãnh đạo có thể sử dụng để tác động đến người lao động làm việc với nỗ lực cao nhất của họ (Oseland, 2009) [79]. Hoàng Thị Hồng Lộc và cộng sự (2014) khi vận dụng lý thuyết nhu cầu của Maslow nhằm xây dựng khung lý thuyết về động lực làm 7 việc trong khu vực công ở Việt Nam [11]. Tác giả đã chỉ ra rằng, sự khác biệt về đặc trưng của nền văn hóa tập thể và bối cảnh kinh tế - xã hội ở nước ta đã làm thay đổi thứ tự năm mức nhu cầu của cán bộ công chức, viên chức Việt Nam so với nghiên cứu Maslow đưa ra.

Mức nhu cầu thấp nhấp của cán bộ công chức Việt Nam là nhu cầu Xã hội rồi đến nhu cầu sinh lý, an toàn, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện bản thân. Như vậy có thể thấy tùy thuộc vào đặc điểm đối tượng nghiên cứu, tùy thuộc vào tính chất công việc và đặc điểm môi trường kinh tế xã hội nói chung, thứ tự ưu tiên về nhu cầu trong quá trình làm việc của người lao động là rất khác nhau. Lý thuyết hai yếu tố của Herzberg về tạo động lực được phát triển với mục đích phân biệt nhóm yếu tố duy trì và nhóm yếu tố thúc đẩy động lực làm việc (Ruthankoon & Ogunlana, 2003) [84]. Nghiên cứu của Maslow trú trọng đến các nhu cầu phát sinh tự nhiên của con người thì Herzberg trú trọng nghiên cứu đến những nhu cầu được nảy sinh trong quá trình làm việc của người lao động.

Herzberg đã tiên phong trong việc phân chia cụ thể các yếu tố có tác động duy trì người lao động làm việc và các yếu tố góp phần tạo động lực làm việc. Việc phân chia ra 2 nhóm yếu tố đã giúp cho lãnh đạo các tổ chức có những quyết định phù hợp và dễ dàng hơn trong việc lựa chọn các biện pháp nhằm gia tăng động lực làm việc cho người lao động. Cũng xuất phát từ nhu cầu của người lao động, McClelland (1960) lại tập trung vào việc thỏa mãn các nhu cầu hiện có thay vì tạo ra hoặc phát triển các nhu cầu [73]. Ông khẳng định rằng tất cả chúng ta đều có ba nhu cầu thúc đẩy ảnh hưởng đến động lực của con người.

Một người được thúc đẩy bởi khao khát quyền lực, thành tích và sự liên kết. Các mức độ nhu cầu sẽ khác nhau ở mỗi một cá nhân. Một số người có nhu cầu lớn hơn về thành tích; những người khác lại có nhu cầu liên kết mạnh mẽ hơn và có những người có mong muốn về nhu cầu quyền lực. Trong khi một nhu cầu có thể chiếm ưu thế, điều này không có nghĩa là những nhu cầu khác không tồn tại.

Lawrence và Nohria (2002) dựa trên các quan điểm đi trước cũng đã đưa ra lý thuyết động lực lao động của con người [63]. Tác giả cho rằng nền tảng cho động lực của nhân viên gồm bốn động lực - động lực để tiếp thu, động lực liên kết, động lực tìm hiểu và và động lực bảo vệ. Nghiên cứu cũng chỉ rõ hệ thống phần 8 thưởng đáp ứng động lực để tiếp thu, văn hóa đáp ứng động lực để liên kết, thiết kế công việc đáp ứng động lực để tìm hiểu và các quy trình quản lý hiệu suất và phân bổ tài nguyên đáp ứng động lực bảo vệ. Khi các đòn bẩy tổ chức này được sử dụng để thực hiện các hoạt động tạo động lực của nhân viên và làm cho hiệu suất của tổ chức sẽ được tối đa hóa.

Cũng xuất phát từ việc xác định nhu cầu của người lao động trong tạo động lực lao động, Vũ Thị Uyên (2008) cho rằng để tạo động lực lao động cho nhân viên thì việc quan trọng nhất là phải hiểu rõ nhu cầu của họ [29]. Khi xác định chính xác nhu cầu của người lao động đồngg thời lãnh đạo sử dụng các giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng các nhu cầu đó thì động lực lao động sẽ được gia tăng. Trương Minh Đức (2011) cũng đồng ý quan điểm trên. Tác giả nhấn mạnh “Để tạo động lực làm việc cho người lao động, nhà quản lý cần phải thấu hiểu nhu cầu làm việc của người lao động, họ làm vì cái gì, điều gì thúc đẩy họ làm việc hăng say để từ đó có cách thức tác động phù hợp giúp cho động lực lao động của người lao động được gia tăng” [27].

Nghiên cứu của tác giả đã sử dụng lý thuyết tháp nhu cầu của Maslow kết hợp với xây dựng mô hình hồi quy để đánh giá mức độ tạo động lực làm việc cho các nhân viên trong công ty. Kết quả đã cho thấy mức lương cơ bản, tổng mức thu nhập của nhân viên, các nhà quản lý tại doanh nghiệp chưa đảm bảo, nhu cầu an toàn trong công việc, điều kiện làm việc chưa được thỏa mãn. Từ đó định hướng một số vấn đề giúp các nhà quản lý lưu ý để tạo động lực lao động cho nhân viên. Với quan điểm tiếp cận về tạo động lực dựa trên nhu cầu của người lao động, có thể thấy quá trình tạo động lực được bắt đầu bởi sự căng thẳng gây ra bởi mong muốn thỏa mãn nhu cầu.

Sự căng thẳng khiến người lao động có thái độ nỗ lực và cố gắng để đạt được mục tiêu mong muốn của bản thân nhằm thỏa mãn nhu cầu. Nhu cầu đạt được sẽ tạo cảm giác hài lòng của người lao động làm cho trạng thái căng thẳng của người lao động được suy giảm. Mức độ hài lòng đạt được càng cao thì động lực lao động cũng được gia tăng. - Quan điểm tạo động lực thông qua các phương tiện bên ngoài.

Cách tiếp cận này được tác giả Skinner vận dụng trong tạo động lực lao động cho người lao động. Skinner nhấn mạnh rằng, người lãnh đạo trong tổ chức không nên quá chú trọng vào điểm yếu, kém của nhân viên mà nên sử dụng các chính sách thù lao đãi ngộ hợp lý để giúp họ cải thiện và nâng cao hiệu quả công việc. Các nhà lãnh đạo trong tổ chức cần sử dụng nhiều hình thức nhằm công khai động viên, khuyến khích và khen ngợi nhân viên của mình. Việc phê bình nhân viên cần mang tính xây dựng và phê bình sự việc chứ không phải chỉ trích con người.

Phê bình nên đi kèm với khen ngợi để giảm thiểu việc chỉ trích nhân viên trực tiếp trước mặt đồng nghiệp. Nó không liên quan đến những gì khởi xướng hành vi. Tuy nhiên, nó cung cấp một phương tiện phân tích mạnh mẽ về việc kiểm soát hành vi của người lao động. Do đó, nó được vận dụng trong việc tạo động lực lao động.

- Cách tiếp cận thứ 3 đó là dựa trên các yếu tố nội tại tập trung vào các quá trình suy nghĩ bên trong và nhận thức về động lực. Cách tiếp cận này liên quan đến nhận thức của mọi người về môi trường làm việc của họ và cách họ giải thích và hiểu về việc làm thế nào để tạo động lực lao động. Ông cho rằng nỗ lực của nhân viên sẽ dẫn đến hiệu suất và hiệu suất sẽ dẫn đến phần thưởng. Ông đưa ra giả thuyết rằng để một người có động lực thì cần phải có sự liên kết giữa nỗ lực, hiệu suất.

Vroom nhận ra rằng hiệu suất của một nhân viên dựa trên các yếu tố cá nhân chẳng hạn như tính cách, kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm và khả năng. Và một số yếu tố có thể đóng góp vào nhận thức kỳ vọng của họ: mức độ tự tin vào các kỹ năng cần thiết cho công việc, sự hỗ trợ từ lãnh đạo và đồng nghiệp, điều kiện và môi trường làm việc, sự sẵn có của nguồn thông tin. Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào phần thưởng mà họ nhận được. Phần thưởng càng tích cực thì nhân viên càng có động lực cao.

Nếu như Vroom cho rằng động lực lao động được tạo ra từ những kỳ vọng của nhân viên thì Locke & Latham (1990) cho rằng việc thiết lập các mục tiêu hiệu suất cụ thể, đầy thách thức và cam kết với các mục tiêu này là những yếu tố chính quyết định tạo ra động lực lao động [65]. Các mục tiêu khó cụ thể luôn dẫn đến hiệu suất tốt hơn các mục tiêu không cụ thể. Greenberg và Baron (2000) cũng ủng hộ quan điểm và cho rằng những mục tiêu được cụ thể hóa và có tính thách thức sẽ giúp cho việc thực hiện 10 công việc được tốt hơn từ đó động lực lao động sẽ được duy trì và gia tăng [48].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ