phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục đề án có kết cấu gồm 3 phần, cụ thể như sau: Phần 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN Phần 2: NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN Phần 3: CÁC ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 5 Phần 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm cơ bản và lý thuyết có liên quan đến tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp 1. Các khái niệm cơ bản a.
Khái niệm động lực làm việc “Người lao động trong doanh nghiệp làm việc không phải chỉ dựa vào năng lực của bản thân mà còn phải dựa trên động lực làm việc của họ, nghĩa là dựa trên sự khao khát và tự nguyện được mang hết khả năng cống hiến cho sự nghiệp phát triển của doanh nghiệp, gắn bó lâu dài với doanh nghiệp và qua đó thỏa mãn được các mục tiêu cá nhân”. Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016, 231). Hiện nay, có nhiều tác giả đã đưa ra quan điểm của mình về động lực làm việc của người lao động. Theo tác giả Vũ Thị Uyên (trích dẫn trong Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn, 2016, 231) cho rằng “động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức” với cách hiểu này tác giả đưa ra góc nhìn về sự xuất hiện động lực làm việc của người lao động là do sự vận động cùng lúc của các nguồn lực thuộc chính bản thân người lao động và trong môi trường sống cũng như làm việc của họ tạo ra.
Nhờ chính sách tác động và tạo điều kiện từ phía doanh nghiệp đã khiến người lao động mong muốn, tự nguyện cống hiến cho doanh nghiệp qua đó giúp họ đạt được mục tiêu của bản thân. Theo Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016, 232) cho rằng “Động lực làm việc là những mong muốn, khao khát của người lao động được kích thích để họ nỗ lực hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu nhất định của cá nhân và tổ chức”. Trong phạm vi đề án tác giả tiếp cận khái niệm động lực làm việc theo quan điểm của tác giả Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn. Như vậy, động lực làm việc có các điểm chính sau: Thứ nhất, động lực làm việc gắn liền với công việc mà người lao động đảm nhận và doanh nghiệp nơi người lao động làm việc.
Thứ hai, để người lao động làm việc theo mục tiêu, kế hoạch phát triển của doanh nghiệp một cách tự nguyện thì doanh nghiệp phải giúp họ thấy được những lợi ích mà bản thân nhận được khi họ làm điều đó, tức là gắn mục tiêu cá nhân đi liền 6 với mục tiêu của doanh nghiệp. Thứ ba, động lực làm việc của người lao động có sự khác biệt với động cơ cá nhân do đó nhà quản trị doanh nghiệp cần phân định rõ để đưa ra các biện pháp tạo động lực hợp lý. Khái niệm tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp Khi người lao động có động lực làm việc sẽ dồn hết sức mình để hoàn thành một cách tốt nhất công việc được giao, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh. Động lực làm việc của người lao động luôn gắn với lợi ích mà họ đạt được.
Lợi ích mà họ đạt được càng cao thì động lực lao động càng lớn. Vậy việc tạo động lực làm việc cho người lao động được hiểu như thế nào? Có nhiều khái niệm về tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp nhưng mỗi khái niệm đều có những quan điểm khác nhau song nhìn chung đều nói lên được bản chất của tạo động lực lao động. Theo Lê Thanh Hà (2012, 145) thì: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạ ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra”. Với quan điểm này tác giả cho rằng tạo động lực làm việc cho người lao động là quá trình mà nhà lãnh đạo doanh nghiệp sẽ sử dụng tất cả các chính sách nhằm khuyến khích sự tự nguyện của bản thân người lao động để họ tự phấn đấu hoàn thành công việc được giao với năng suất hiệu quả cao nhất thông qua đó mục tiêu của doanh nghiệp sẽ đạt được.
Theo Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Hương (2011, 87) thì: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc”. Theo Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016, 234) cho rằng “Tạo động lực làm việc là quá trình xây dựng, triển khai thực hiện và đánh giá các chương trình, biện pháp tác động vào những mong muốn, khát khao của người lao động nhằm thúc đẩy họ làm việc để đạt các mục tiêu cá nhân và tổ chức, doanh nghiệp”. Dưới cách tiếp cận một quá trình thực hiện thì tạo động làm việc cho người lao động là vấn đề thuộc về sự chủ động của doanh nghiệp từ việc nhà quản trị của doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống các chính sách, biện pháp tạo động lực đến khi tổ chức thực hiện và đánh giá hiệu quả của các chính sách, chương trình tác động đến động lực người lao động. Trong phạm vi đề án, tạo động lực làm việc cho người lao động tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ HPE Việt Nam sẽ nghiên cứu theo 7 quan điểm tạo động lực làm việc của Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016).
Một số học thuyết tạo động lực làm việc cho người lao động Để tạo động lực cho người lao động các nhà khoa học đã đi nghiên cứu các cách tiếp cận tới các yếu tố tạo động lực cho người lao động. Mỗi học thuyết có quan điểm tiếp cận khác nhau. Vì vậy, trong giới hạn và phạm vi nghiên cứu của mình, đề án chọn hai học thuyết làm cơ sở lý luận và tiền đề để nghiên cứu là học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow và học thuyết công bằng của Stacy Adams. Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Nhà tâm lý học người Mỹ - Abraham Maslow cho rằng con người có nhiều nhu cầu khác nhau cần được thỏa mãn và ông đã phân chia các nhu cầu của con người thành 5 nhóm và sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao theo hình bậc thang như sau: Nhóm 1: Nhu cầu sinh học bao gồm những nhu cầu cơ bản để con người có thể tồn tại như thức ăn, nước uống, quần áo mặc, nhà ở.
Trong lao động, đó là mong muốn được nhận được mức tiền lương đủ để trang trải cho các sinh hoạt và đảm bảo cuộc sống của người lao động và gia đình họ. Nhóm 2: Nhu cầu an toàn là những mong muốn của con người được đảm bảo an toàn về thân thể. Trong lao động, đó là công việc ổn định lâu dài, điều kiện làm việc an toàn, được chăm sóc sức khỏe, được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Nhóm 3: Nhu cầu xã hội thể hiện thông qua giao lưu, gặp gỡ, tiếp xúc thiết lập các mối quan hệ với những người khác.
Trong lao động, người lao động mong muốn tham gia các hoạt động giao lưu, sinh hoạt tập thể như bữa ăn trưa tập thể, tham gia đội bóng của công ty, các chuyến du lịch, nghỉ mát. Nhóm 4: Nhu cầu được tôn trọng là nhu cầu có địa vị, được người khác tôn trọng hay thừa nhận đối với sự thành đạt, tài năng, năng lực của một cá nhân. Trong lao động, người lao động được thăng tiến, được trao tặng những vật có giá trị, có phòng làm việc đầy đủ tiện ích, phần thưởng xứng đáng với thành tích đạt được vì chúng thể hiện sự thừa nhận của tổ chức đối với những đóng góp của họ đối với tổ chức trong thời gian nhất định. Nhóm 5: Nhu cầu tự hoàn thiện là cấp độ cao nhất thể hiện qua những nhu cầu về chân thiện, mỹ, tự chủ sáng tạo, mong muốn được phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực.
Trong lao động, người lao động mong muốn làm các công việc có tính thách 8 thức, đòi hỏi bản thân phải nỗ lực để đạt được mục tiêu, được tự chủ trong công việc để tự khẳng định bản thân mình. Maslow cho rằng cá nhân trong tổ chức chủ yếu hành động theo nhu cầu và chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động. Theo ông, khi nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn thì về cơ bản nó không còn tạo ra động lực và nhu cầu bậc cao hơn sẽ trở nên mạnh hơn và tác động quyết định đến hành vi của người lao động. Vì thế, muốn tạo động lực cho người lao động cần phải hiểu được cấp bậc nhu cầu hiện tại của người lao động, dùng các biện pháp nhằm hướng vào thỏa mãn các nhu cầu đó của họ để làm cho họ hăng hái, chăm chỉ, tận tụy hơn với công việc được giao, đồng thời đảm bảo đạt đến các mục tiêu của tổ chức b.
Học thuyết công bằng của Stacy Adams Học thuyết công bằng của J.Stacy Adams đề cập đến vấn đề nhận thức của người lao động về mức độ được đối xử công bằng và đúng đắn trong tổ chức. Học thuyết thể hiện quan niệm rằng người lao động muốn được đối xử công bằng và có được phần thưởng tương xứng với đóng góp của họ trong tổ chức. Giả thiết cơ bản của học thuyết là mọi người đều muốn được đối xử công bằng; các cá nhân trong tổ chức có xu hướng so sánh những gì họ bỏ vào một công việc (đầu vào) với những gì họ nhân được từ công việc đó (đầu ra) và sau đó đối chiếu tỷ suất đầu vào – đầu ra của họ với tỷ suất đầu vào – đầu ra của người khác. Tư tưởng đó được biểu diễn như sau: Nếu tỷ suất của mỗi người đều như nhau, thì trong doanh nghiệp tồn tại tình trạng công bằng.
Ngược lại, sẽ xuất hiện tình trạng bất công khi tỷ suất này không ngang bằng, trong trường hợp này người lao động sẽ nỗ lực để thay đổi chúng theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực.