Mở đầu, mục lục, 03 chương, 12 tiết, tài liệu tham khảo và phụ lục. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Động lực Theo từ điển Tiếng Việt: “Động lực được hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển” [32, tr.
Theo Greenberg và Baron (2003) thì động lực là một quá trình phản ứng tâm lý tạo ra sự mong muốn cũng như định hướng và duy trì một hành vi nhằm hướng đến một mục tiêu nào đó [1]. Các tác giả Locke và Latham (2004) cho rằng khái niệm động lực được đề cập đến các yếu tố bên trong bắt buộc hành động và các yếu tố bên ngoài có thể hoạt động như sự khuyến dụ/khích lệ hành động [2, tr. Động lực là những yếu tố bên trong thúc đẩy con người cố gắng lao động trong hoàn cảnh nhất định cũng như tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Động lực là sự sẵn lòng thực hiện mọi nỗ lực cao nhằm đạt mục tiêu của mình, chịu tác động từ sự đáp ứng nhu cầu cá nhân của người lao động [14].
Động lực là sự khát khao và nỗ lực của chủ thể nhằm hướng tới đạt mục tiêu của cá nhân và tổ chức. Từ những khái niệm trên ta có thể đưa ra một cách định nghĩa khái quát nhất về động lực như sau: Động lực là toàn bộ những nhân tố thúc đẩy, khích lệ, động viên con người thực hiện những hành vi theo mục đích nhất định, nói một cách đơn giản, động lực là toàn bộ những nguyên nhân thúc đẩy con người thực hiện một hành vi nào đó một cách tốt nhất. Động lực làm việc Biểu hiện của động lực làm việc là thái độ luôn cố gắng, nỗ lực, phấn đấu; có thể phát huy được tối đa nội lực bên trong, vượt lên trên những trở ngại, 10 thách thức để thực hiện nhiệm vụ một cách nhanh nhất với hiệu quả cao nhất. Câu trả lời đúng đắn nhất về nguyên nhân khiến một người phải hành động chính là động lực làm việc.
Khi đấy, họ còn thực hiện thành công xuất sắc hơn nữa những gì mà người khác trông đợi từ họ. Sự thúc đẩy con người hành động là động lực làm việc. Vì vậy nó có một ảnh hưởng cực lớn đối với hành động của con người. Ảnh hưởng này có thể tốt hoặc xấu.
Chính vì vậy với những phương pháp tạo động lực đối với con người thì phải có sự giám sát [15]. Bởi sự thành công của doanh nghiệp nằm tại năng lực thực hiện công việc của người lao động. Tóm lại, động lực làm việc là tất cả những yếu tố thôi thúc, khuyến khích, khơi dậy trong con người mong muốn được hành động và thúc đẩy sự tự nguyện nỗ lực ở mức độ cao nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức và hướng hành động của họ vào việc đạt mục tiêu mong đợi. Tạo động lực làm việc Tạo động lực là hệ thống các phương pháp, cách thức và kỹ thuật của nhà quản lý tác động lên người lao động nhằm tạo cơ hội giúp người lao động có thêm động lực để làm việc [15].
Tạo động lực làm việc được hiểu là hệ thống các biện pháp cũng như phương thức được nhà quản lý thực hiện đối với mỗi cá nhân trong tổ chức, cụ thể là: xây dựng những mục tiêu cụ thể nhằm bảo đảm hợp lý, gắn bó chặt chẽ với mục tiêu của tổ chức, nhằm đáp ứng nhu cầu, mục tiêu của người lao động; áp dụng các biện pháp khuyến khích cả thể chất lẫn tinh thần nhằm tạo thêm động lực làm việc đối với người lao động; xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá hiệu quả; coi trọng kỷ luật, khen thưởng. Tạo động lực là việc áp dụng hệ thống các chính sách, biện pháp, công cụ và cách thức nhằm tác động vào người lao động có mục đích nhằm tăng hiệu suất lao động và sáng tạo trong công việc nhằm phát huy có hiệu quả nhất năng lực của người lao động cho công việc. Như vậy, tạo động lực làm việc được hiểu là là hệ thống các biện pháp 11 thúc đẩy làm việc nhằm tạo mọi cơ hội để người lao động hoàn thành công việc có hiệu quả nhất nhằm thực hiện tốt công việc của mình. Công chức và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận - Công chức: Ở Việt Nam khái niệm công chức được quy định trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008 được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019.
Cụ thể tại khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. - Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận: Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ về việc quy định tổ chức các CQCM thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh [4] (sau đây gọi chung là cấp huyện) quy định: “CQCM tại UBND cấp huyện gồm có phòng và cơ quan tương đương phòng”. UBND Thành phố Hồ Chí Minh là chính quyền địa phương tổ chức theo mô hình chính quyền đô thị nên có những đặc thù riêng. Cụ thể, theo Quyết định số 24/2021/QĐ-UBND ngày 19/7/2021 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Danh mục tên gọi và số lượng các CQCM thuộc UBND quận trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thì UBND quận nói chung và UBND quận Tân Phú có 12 CQCM gồm: Phòng Nội vụ, Phòng Tư pháp, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Lao động - Thương binh 12 và Xã hội, Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Y tế, Phòng Kinh tế, Phòng Quản lý đô thị, Thanh tra, Văn phòng UBND quận.
Về nguyên tắc tổ chức; vị trí và chức năng; nhiệm vụ, quyền hạn; chế độ làm việc và trách nhiệm của Thủ trưởng CQCM thuộc UBND quận thực hiện đúng theo quy định tại Nghị định số 37/2014/NĐ-CP, Nghị định số 108/2020/NĐ-CP, Nghị định số 33/2021/NĐ-CP, quy định của các Bộ, ngành có liên quan và quy định của UBND Thành phố Hồ Chí Minh. Về biên chế và tổng biên chế cũng như quỹ lương hành chính của quận do UBND Thành phố Hồ Chí Minh giao theo chỉ tiêu kế hoạch hàng năm. UBND quận căn cứ vào tổng biên chế được giao và tình hình thực tế của quận để phân bổ biên chế cho các CQCM phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ công tác của địa phương. UBND Thành phố Hồ Chí Minh giao Chủ tịch UBND quận quyết định thực hiện việc sắp xếp tổ chức các CQCM.
Đồng thời chịu trách nhiệm xây dựng và phê duyệt quy chế tổ chức và hoạt động của các CQCM thuộc UBND quận. - Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận: Từ những quy định nêu trên, chúng ta thấy công chức các CQCM thuộc UBND quận là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm theo ngạch, chức danh, thuộc biên chế và hưởng tiền lương từ ngân sách nhà nước làm việc tại các CQCM thuộc UBND quận và thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND quận quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực thuộc quận và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp của UBND quận và theo quy định của pháp luật. Dựa vào việc nêu rõ công chức làm việc trong các cơ quan hành chính ở cấp quận tại quy định trên và quy định về CQCM thuộc UBND cấp quận theo Nghị định số 37/2014/NĐ-CP, theo đó chúng ta xác định được công chức CQCM thuộc UBND cấp quận gồm những đối tượng sau: 13 - Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong Văn phòng UBND. - Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong CQCM (Phòng chuyên môn) thuộc UBND.
Công chức thuộc các CQCM thuộc UBND quận Tân Phú gồm có Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và công chức làm việc tại Văn phòng UBND quận; Trưởng phòng, phó phòng và công chức làm việc tại 11 phòng chuyên môn còn lại thuộc UBND quận. Tạo động lực làm việc cho công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận Tạo động lực là nền tảng thúc đẩy công chức nỗ lực thực hiện xuất sắc công việc của mình. Lý do cũng có khi xuất phát từ bên trong chính công chức (tâm tư, nguyện vọng, cá tính, hoàn cảnh sống, những giá trị, chuẩn mực nghề nghiệp công chức theo đuổi, niềm yêu thích công việc…) nhưng cũng có khi là ảnh hưởng của nhóm yếu tố từ bên ngoài (là những gì công chức kỳ vọng, mong đợi nhận được ở cơ quan, tổ chức, ở đồng nghiệp về chế độ, môi trường làm việc, phong cách nhà lãnh đạo…). Trong quá trình thực thi công việc hai nhóm yếu tố động lực bên trong và bên ngoài đều tồn tại và gắn bó với bất kỳ hoạt động, hành vi, thái độ nào cụ thể của công chức.
Tạo động lực làm việc cho đội ngũ công chức tại CQCM thuộc UBND quận được hiểu là vận dụng những giải pháp, cơ chế chính sách và những quy định của Pháp luật, của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để tạo ra niềm khao khát, động lực phấn đấu, lòng say mê làm việc của công chức để từ đó tạo hiệu lực, hiệu quả cao trong thi hành công vụ và thực hiện tốt hơn mục đích cá nhân của công chức. Các yếu tố cấu thành động lực làm việc cho công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận 14 Đối với công chức các CQCM thuộc UBND quận, tác giả lựa chọn thuyết hai yếu tố của F. Herzberg áp dụng vào thực tiễn để cụ thể, rõ ràng và phù hợp với tình hình thực tế tại đây. Theo thuyết này thì động lực làm việc được hình thành từ hai nhóm yếu tố chính, đó là: nhóm các yếu tố duy trì và nhóm các yếu tố động viên.