CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ ÁN TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC PHƯỜNG 1. Công chức phường 1. Khái niệm công chức phường Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành và ngày càng hoàn thiện gắn với sự phát triển của Nhà nước ta: Năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ-CP về quy định những người là công chức, căn cứ Điều 2 như sau: “Công chức là công dân việt nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này.” [4] Năm 2019, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức, trong đó khoản 1 Điều 1 quy định như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.” [21] Theo đó, tác giả cho rằng: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan nhà nước để thực thi công vụ, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
11 Nghị định số 33/2023/CP-NĐ ngày 10/6/2023 của Chính Phủ quy định công chức cấp xã tại khoản 3 Điều 4 và Điều 61 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Cụ thể như sau: công chức phường hay nói cách khác công chức cấp xã (xã, phường, thị trấn) là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã (xã, phường, thị trấn), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã), gồm có các chức danh sau: Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự phường; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường; Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội. [9] Trên cơ sở ở trên, tác giả đưa ra quan niệm về công chức phường như sau: Công chức phường là công dân Việt Nam, được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND phường để thực thi công vụ, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Đặc điểm công chức phường Đặc điểm về hoạt động của công chức phường về cơ bản được quy định bởi chính vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Cấp thấp nhất của chính quyền địa phương ở nước ta bao gồm HĐND phường là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí và lợi ích của nhân dân, do người dân phường trực tiếp bầu ra và UBND phường do HĐND thành lập, có nhiệm vụ quản lý các lĩnh vực đời sống xã hội tại địa phương, hướng dẫn nhân dân thực hiện các hoạt động tự quản ở cơ sở, dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa giữa lợi ích của người dân địa phương với lợi ích chung của cả nước. Hồ Chí Minh, công chức phường thuộc biên chế công chức của Ủy ban nhân dân quận hoặc Ủy ban nhân dân TP. Thủ Đức và do Ủy ban nhân dân quận, Ủy ban nhân dân TP.
Thủ Đức quản lý, sử dụng. 12 Ngoài các đặc điểm trên, dựa vào cách hiểu vể công chức phường ở mục 1.1, tác giả cho rằng công chức phường có 4 đặc điểm chính sau đây: Về hoạt động: sử dụng quyền lực nhà nước để thực thi nhiệm vụ, chức trách được giao. Về hình thức tuyển dụng: thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và thuộc biên chế. Về lương: được hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo ngạch bậc.
Về nơi làm việc: cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương. Vai trò của công chức phường Trong Luận văn “Tạo động lực làm việc cho công chức cấp xã tại Huyện Krông Buk, Tỉnh Đắk Lắk” (2017) ở Học viện Hành chính Quốc gia, Nguyễn Văn Tiến cho rằng công chức cấp xã có những vai trò bao gồm: là người tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Là người trực tiếp quản lý, điều hành đảm bảo mọi hoạt động chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh… ở địa phương diễn ra trong khuôn khổ pháp luật. Là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng quyền lợi của nhân dân địa phương; đấu tranh và bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người dân khi bị vi phạm, đồng thời chăm lo cải thiện và nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân.
[25] Như vậy, tác giả phân tích vai trò của công chức phường như sau: Công chức phường là những người tiếp xúc trực tiếp và gần gũi nhất với dân tham gia vào việc tổ chức các hoạt động quản lý, điều hành công việc hành chính và thi hành pháp luật tại địa phương. Nhờ vào vai trò này, họ có thể nắm bắt tốt nhất tâm tư, nguyện vọng của người dân, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm đảm bảo lợi ích cho cộng đồng địa phương. Đồng thời, sự gắn bó mật thiết với hoạt động của dân giúp công chức phường phát hiện và ngăn chặn sớm nhất các hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương. 13 Công chức phường là người tham gia xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, chỉ đạo các phong trào văn hóa, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Công chức phường là “cầu nối” trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là người tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Công chức phường đóng vai trò quan trọng trong công tác tuyên truyền và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn phường. Công chức phường có vai trò tham mưu và hỗ trợ UBND phường trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Bởi vì chính quyền phường có nhiệm vụ quản lý và điều hành mọi hoạt động ở địa phương, bao gồm các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh, đảm bảo mọi hoạt động diễn ra trong khuôn khổ pháp luật mà công chức phường chính là chủ thể quản lý nhà nước trong bộ máy chính quyền phường.
Xuất phát từ bản chất Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Chính quyền nhà nước do nhân dân lập ra để quản lý, điều hoà các quan hệ xã hội, chăm lo và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Do vậy, ngoài vai trò là người quản lý, thực thi quyền hành pháp; công chức phường còn có vai trò là người đại diện cho ý chí và quyền lợi của nhân dân. Động lực làm việc của công chức phường 1.
Khái niệm động lực làm việc của công chức phường Hiện nay có rất nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về động lực: Trong giáo trình “Quản trị nhân lực” (2004) của Ths Nguyễn Vân Điềm - PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân thì "động lực làm việc chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu của cá nhân và mục tiêu tổ chức". [11] 14 Trong Luận án “Chính sách tạo động lực cho cán bộ công chức cấp xã nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ An” (2010), Lê Đình Lý trình bày “động lực của cán bộ công chức cấp xã là sự tác động tổng hợp của các các yếu tố (vật chất và tinh thần) có tác dụng thúc đẩy, kích thích người cán bộ công chức cấp xã hăng say, nỗ lực làm việc nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao”. [16] Từ đó, tác giả cho rằng: Động lực làm việc của công chức phường là sự khát khao và tự nguyện làm việc của công chức phường nhằm tăng cường nỗ lực để đạt được mục tiêu cá nhân và của tổ chức với kết quả tốt nhất”. Vai trò động lực làm việc đối với công chức phường Khi thực hiện luận văn “An exploratory analysis of the role of motivation within the workplace” (Một phân tích khám phá về vai trò của động lực tại nơi làm việc) (2013), Robert Declan Flynn đã sử dụng phiếu khảo sát và bảng hỏi để phân tích dữ liệu nhận được từ các cá nhân làm việc cho các công ty đa quốc gia tại Dublin, Ireland, cụ thể hơn là các công ty: Microsoft, LinkedIn, Google, IBM.
Bằng cách sử dụng đồ thị và biểu đồ, Robert đã chứng minh động lực sẽ kích thích sự nỗ lực, thúc đẩy cá nhân phát huy được sức mạnh to lớn, tiềm tàng bên trong, vượt qua được thách thức, khó khăn để hoàn thành công việc một cách tốt nhất. [32] Trong bản tin “Đổi mới quản lý cán bộ, công chức ở Việt Nam theo xu hướng “quản lý nguồn nhân lực”” được đăng trên Tạp chí điện tử Tổ chức Nhà nước ngày 24/08/2016, PGS. Nguyễn Thị Hồng Hải trình bày “Động lực làm việc của CBCC có ý nghĩa quyết định đến hiệu suất làm việc của CBCC trong thực thi công vụ. CBCC có khả năng, có đầy đủ nguồn lực vật chất để thực thi công vụ nhưng khi không có động lực làm việc có thể không tạo ra kết quả công việc như mong muốn.” [14] Như vậy, tác giả cho rằng trong quá trình hoạt động của cơ quan, khi được giao bất cứ nhiệm vụ nào thì vấn đề đặt lên hàng đầu là phải hoàn thành được công việc đó.
Mặc dù công chức phường có thể hoàn thành nhiệm vụ mà không cần động lực làm việc nhưng họ sẽ có tâm lý xa rời và không mong muốn gắn bó lâu dài với 15 tổ chức, kết quả công việc không cao.