Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp. Chương 2: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng tạo động lực làm việc cho nhân viên tại Công ty cổ phần Tập đoàn Đạt Phương. Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực làm việc cho nhân viên tại Công ty cổ phần Tập đoàn Đạt Phương.
4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Những công trình nghiên cứu về vai trò của tạo động lực làm việc cho người lao động trong các doanh nghiệp Rất nhiều nghiên cứu đã khẳng định tạo động lực làm việc cho người lao động chính là một nội dung trong quản trị nguồn nhân lực. Chính vì vậy, tạo động lực làm việc cho người lao động thường được thấy là một chương trong các cuốn sách giáo trình về quản trị nguồn nhân lực.
Ở Việt Nam, một số cuốn giáo trình được sử dụng rộng rãi như "Giáo trình quản trị nguồn nhân lực của tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2012), của tác giả Trần Kim Dung (2018). Đây cũng được coi là một nội dung quan trọng để duy trì tính ổn định của nguồn nhân lực, giữ chân nhân tài, thúc đẩy sáng tạo, tạo ra bầu không khí hăng say làm việc. Trong các cuốn sách này, tạo động lực làm việc cho người lao động được mô tả khá kỹ từ khái niệm, vai trò tới nội dung. Phạm Đức Chính (2016) đã mô tả khá kỹ càng về mối quan hệ giữa tạo động lực làm việc và sự hài lòng công việc với những minh chứng thực tiễn tại các cơ quan quản lý nhà nước tại Việt Nam.
Từ đó, tác giả cho rằng, chỉ cần làm tốt công tác tạo động lực làm việc thì hiệu quả hoạt động của cán bộ, công chức sẽ tăng cao. Raluca Pârjoleanu (2020) cho rằng động lực làm việc của nhân viên rất quan trọng đối với sự thành công của một tổ chức. Vì vậy, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng nên tập trung vào việc tạo động lực cho nguồn nhân lực nếu họ muốn duy trì tính cạnh tranh trên thị trường và tránh các vấn đề, chẳng hạn như vấn đề giữ chân nhân viên. Khi doanh nghiệp thực hiện các phương pháp tạo động lực phù hợp với môi trường và từng loại nhân viên, sự hài lòng của người lao động sẽ tăng lên và họ sẽ cảm thấy có động lực hơn để thực hiện nhiệm vụ với hiệu quả cao nhất.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố thúc đẩy, chẳng hạn như thành công trong công việc, 5 sự công nhận, đa dạng hóa trách nhiệm và thăng tiến nghề nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nhân viên trong công việc. Điều quan trọng là phải cân bằng được giữa mức độ thách thức mà công việc mang lại với các nguồn lực sẵn có cho nhân viên. Sự kết hợp động lực tài chính và phi tài chính với các hoạt động huấn luyện và cố vấn, đầu tư vào phát triển nhân viên cũng như sự linh hoạt của lịch làm việc là những thành phần chính trong việc kích thích động lực làm việc. Những công trình nghiên cứu về nội dung tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp Về lý luận, các cuốn sách nghiên cứu về tạo động lực cho người lao động đã xây dựng khung lý thuyết về các nội dung, nhân tố ảnh hưởng tới tạo động lực làm việc cho người lao động, thậm chí còn đóng góp vào hệ thống lý thuyết các mô hình tạo động lực làm việc cho người lao động để có thể ứng dụng vào nghiên cứu hay thực tiễn trong một doanh nghiệp cụ thể.
Tuy nhiên, các mô hình lý thuyết kinh điển đã tồn tại hàng chục năm thì lại tập trung phân tích về nguồn gốc tạo động lực làm việc cho người lao động. Yếu tố xuất phát điểm hình thành động lực làm việc chính là nhu cầu được Maslow (1954) đề cập bằng việc xây dựng một tháp nhu cầu với nhiều cấp bậc khác nhau. Ông cho rằng con người đều theo đuổi việc thoả mãn các nhu cầu từ thấp tới cao của mình. Đây chính là động lực để họ làm việc với mong muốn phần thưởng là các nhu cầu ở cấp cao hơn được thoả mãn.
Từ đó, Vroom (1966) cũng chỉ ra con người chỉ nỗ lực làm việc khi họ tin hoàn thành nhiệm vụ họ sẽ đạt được những phần thưởng hấp dẫn đáp ứng hay thoả mãn các mong đợi của mình. Cuối cùng thì các mong đợi là các nhu cầu cần được thoả mãn chính là động lực làm việc. Tạo động lực làm việc là tạo ra các niềm tin đánh đổi giữa lao động và nhu cầu đạt được. Niềm tin này sẽ khiến cho người lao động phản ứng trái chiều phụ thuộc vào kết quả đạt được cuối cùng.
Nếu những cống hiến xứng đáng, người lao động sẽ phấn khích và duy trì công việc nhưng ngược lại, người lao động sẽ trở nên bất mãn và thay thế làm việc bằng các hành động tiêu cực. 6 Khi hiểu được nguồn gốc của động lực, các nhà nghiên cứu tìm ra nhiều cách thức để tạo động lực làm việc cho người lao động. Học thuyết công bằng của Stacy Adam (1965) chỉ ra cách thức so sánh giữa những nỗ lực của nhân viên (đầu vào) với những giá trị họ nhận được sau đó (đầu tư). Hezberg (1959) lại cho rằng tạo động lực làm việc cho người lao động phải thực hiện đồng thời giữa việc ngăn chặn bất mãn của người lao động với việc động viên.
Từ đây, lý thuyết về tạo động lực làm việc cho người lao động được hình thành. Vì nhu cầu của con người bao gồm cả vật chất lẫn tinh thần nên các công cụ tạo động lực làm việc cho người lao động được phần lớn các nhà nghiên cứu đề cập là: công cụ tài chính và công cụ phi tài chính (Daniel H. Nhiều khung lý luận được xây dựng trong các nghiên cứu chỉ dừng ở điều đó (Nguyễn Trung Hiếu, 2021 hay Nguyễn Diệu Linh (2016). Điều này khiến cho các nghiên cứu trở nên thiếu sót bởi đây chưa phải là "công tác tạo động lực làm việc" cho nhân viên của các doanh nghiệp mà mới chỉ là xác định các công cụ phục vụ cho công tác này.
Chu Tuấn Anh (2022) cho rằng nội dung các hoạt động tạo động lực cho người lao động trong các doanh nghiệp là cải thiện thu nhập, tạo cơ hội học tập và phát triển, xây dựng môi trường làm việc với các điều kiện làm việc tốt, tác động từ nhà quản lý, xây dựng mối quan hệ với đồng nghiệp, giữ gìn danh tiếng công ty và đóng góp cho xã hội. Nguyễn Thị Mỹ Hằng (2023) chỉ chia các nội dung tạo động lực cho người lao động trong các doanh nghiệp thành 2 công cụ: vật chất và phi vật chất. Tác giả đưa ra quan điểm các công cụ này phải hướng tới việc thoả mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần của người lao động. Khi đó, người lao động sẽ có động lực để làm việc và giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu chung.
Tương tự, Nguyễn Trung Hiếu (2021) cũng nhấn mạnh 2 nội dung quan trọng trong tạo động lực làm việc cho người lao động là những lợi ích về vật chất và các điều kiện thúc đẩy sự hài lòng trong công việc khác như điều kiện làm việc, các mối quan hệ hợp tác tốt đẹp, cơ hội nâng cao trình độ và phát triển bản thân… 7 1. Tổng quan các phương pháp nghiên cứu về tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp Có hai hướng tiếp cận nghiên cứu khác nhau về tạo động lực làm việc cho nhân viên trong các doanh nghiệp. Hướng tiếp cận thứ nhất sử dụng phương pháp phân tích định tính, tập trung mô tả các công cụ tạo động lực làm việc như đã nói ở trên (Nguyễn Thị Mỹ Hằng, 2023). Hướng tiếp cận thứ hai sử dụng phương pháp phân tích định lượng, hoặc là đánh giá ảnh hưởng của các công cụ tới việc tạo động lực làm việc cho nhân viên (Chu Tuấn Anh, 2022; Trương Đức Thao, 2020) hoặc là đánh giá tác động của tạo động lực làm việc cho nhân viên tới hiệu quả công việc của họ (Raluca Pârjoleanu, 2020).
Về thực tiễn, các nghiên cứu tạo động lực làm việc cho người lao động được triển khai ở các không gian và trong khoảng thời gian khác nhau. Các nghiên cứu thực tiễn đều có xu hướng tìm kiếm các hạn chế mà công tác tạo động lực ở một doanh nghiệp, tổ chức cụ thể đang phải đối mặt để đề xuất giải pháp khắc phục. Muhammad Amin và cộng sự (2021) đã sử dụng mô hình định lượng để chứng minh những công cụ tạo động lực làm việc của nhân viên sẽ ảnh hưởng lớn tới việc cùng tạo ra giá trị với khách hàng. Các tác giả cho rằng bản sắc nghề nghiệp, động cơ tài chính, động cơ được công nhận và cơ hội nghề nghiệp chính là những yếu tố quan trọng quyết định động lực làm việc của nhân viên.
Khi lấy dữ liệu sơ cấp tại các trung tâm dịch vụ ô tô đại diện cho các ngành dịch vụ thì rõ ràng những yếu tố tạo động lực này có tác động thúc đẩy tích cực tới việc nhân viên nỗ lực tạo ra giá trị. Kết quả nghiên cứu cho rằng khi các yếu tố này được cải thiện, người lao động sẽ có động lực làm việc lớn, nhờ đó các doanh nghiệp ngành dịch vụ sẽ thúc đẩy việc tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Hằng (2023) trên Tạp chí Nghiên cứu khoa học Công đoàn đã chỉ ra tầm quan trọng của việc tạo động lực cho nhân viên trong doanh nghiệp bằng những minh chứng dựa trên các dữ liệu thứ cấp thu thập từ Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam hay Điều tra lao động, Việc làm của Tổng Cục thống kê. Từ đó, tác giả đưa ra những đề xuất cơ bản để tạo động lực cho người lao 8 động trong doanh nghiệp xoay quan những nhu cầu cần được thoả mãn về vật chất và tinh thần của người lao động.
Luận án tiến sĩ của Chu Tuấn Anh (2022) nghiên cứu về tạo động lực cho người lao động tại các cơ sở dịch vụ y tế tại Việt Nam.