Chương 1: Giới thiệu về nghiên cứu. Chương này sẽ giới thiệu cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, kết cấu luận văn Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương này gồm những nội dung: Các định nghĩa, các thuyết lý về động lực làm việc, các mô hình trong nước và ngoài nước của động lực làm việc theo quan điểm của các nhà nghiên cứu cũng được trình bày trong chương này. Từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thuyết.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này sẽ giới thiệu về việc xây dựng thang đo, cách chọn mẫu, công cụ thu thập dữ liệu, quá trình thu thập thông tin được tiến hành như thế nào và các kỹ thuật phân tích dữ liệu thống kê được sử dụng trong nghiên cứu này. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. 4 Chương này sẽ phân tích, diễn giải các dữ liệu đã thu thập được từ cuộc khảo sát bao gồm các kết quả kiểm định, độ tin cậy và độ phù hợp thang đo.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. Chương này sẽ trình bày một số đề xuất hàm ý chính sách về giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới nhằm nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại công ty cổ phần cơ khí Kiên Giang và một số hạn chế và kiến nghị cho các nghiên cứu tương lai. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Để trả lời câu hỏi các nhân tố nào ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động trong lĩnh vực kinh doanh, thì trước hết cần làm rõ khái niệm “ động lực làm việc” (work motivation). Có thể thấy, chủ đề về tạo động lực làm việc đã được các nhà nghiên cứu tâm lý, xã hội, chủ công ty, doanh nghiệp.
đặt nhiều mối quan tâm từ ngay sau khi cuộc cách mạng công nghiệp hóa bùng phát ở Tây Âu. Theo Kleinginna & Kleinginna (1981), đã có ít nhất 140 định nghĩa khác nhau về động lực làm việc. LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 2. Khái niệm động lực làm việc Động lực làm việc (work motivation) được định nghĩa là “Sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ” (Robbins, 1998).
Theo Crossman & Abou Zaki (2003) động lực làm việc là những hành động khuyến khích như bản thân công việc, tiền lương, sự thăng tiến, giám sát và mối quan hệ với đồng nghiệp có thể ảnh hưởng đến thái độ, hành vi và xác định được mức độ đam mê, cam kết, sự tham gia, sự tập trung. Động lực làm việc: là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể (Nói cách khác động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con người hành động). Động lực cũng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này luôn thay đổi và khó nắm bắt. Chúng được chia thành ba loại yếu tố cơ bản đó là: Loại 1.
Những yếu thuộc về con người tức là những yếu tố xuất hiện trong chính bản thân con người thúc đẩy con người làm việc như: lợi ích của con người, mục tiêu cá nhân, thái độ của cá nhân, khả năng và năng lực của cá nhân, thâm niên, kinh nghiệm công tác. Các nhân tố thuộc môi trường là những nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng đến người lao động như: văn hóa của doanh nghiệp, các chính sách về nhân sự. Các yếu tố thuộc về nội dung bản chất công việc là yếu tố chính quyết định ảnh hưởng đến thù lao lao động và mức tiền lương của công nhân trong tổ chức 6 như: tính ổn định và mức độ tự chủ của công việc, mức độ khác nhau về nhiệm vụ, trách nhiệm, sự phức tạp của công việc, sự hấp dẫn và thích thú trong công việc. Một số học thuyết về động lực làm việc Có nhiều học thuyết về động lực trong làm việc cho thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về tạo động lực.
Tuy nhiên, tất cả các học thuyết đều có một kết luận chung là: việc tăng cường động lực đối với người làm việc sẽ dẫn đến nâng cao thành tích làm việc và các thắng lợi lớn hơn của tổ chức. Dưới đây là một số học thuyết cơ bản về tạo động lực.Thuyết cấp bật nhu cầu Maslow (1943) Lý thuyết của Maslow về sự phát triển cá nhân và động lực được công bố (1943). Theo Maslow đề xuất rằng con người có một số các nhu cầu cơ bản cần phải được thực hiện trong cuộc đời của mình, được chia thành 5 lớp và xếp hạng theo mức độ quan trọng từ thấp tới cao, cụ thể: Nhu cầu vật chất (sinh lý): là những nhu cầu về ăn, mặc, ở. đây là những nhu cầu cơ bản nhất của con người và có vị trí thấp nhất trong hệ thống nhu cầu của Maslow.
Nhu cầu này chưa được thõa mãn tới mức độ cần thiết thì những nhu cầu khác không thúc đầy được con người.1: Thuyết cấp bật nhu cầu Maslow (1943) Nhu cầu an toàn: là những nhu cầu về sự an toàn thân thể, sự ổn định đời sống cũng như nhu cầu tránh khỏi sự đau đớn, sự đe dọa và bệnh tật. Biểu hiện nhu cầu an 7 toàn của con người là mong ước có việc làm ổn định, không bị thất nghiệp, được hưởng các phúc lợi xã hội, có lương hưu khi hết sức lao động. Đây là những nhu cầu bậc cao hơn nhu cầu vật chất. Nhu cầu xã hội: hay còn được gọi là nhu cầu quan hệ, đó là những mối quan hệ trong tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình và những nhu cầu mở rộng quan hệ trong cuộc sống.
Mức độ về nhu cầu xã hội ở mỗi người là khác nhau, có người có nhu cầu xã hội cao, đây là những con người thích làm những công việc có sự tham gia của nhiều người, thích những mối quan hệ rộng rãi, còn có những người có nhu cầu xã hội thấp hơn, họ chỉ thíc làm những công việc đơn độc một mình. Nhu cầu này được xếp ở vị trí thứ ba trong tháp nhu cầu của Maslow, đứng trên nhu cầu vật chất và nhu cầu an toàn. Nhu cầu được tôn trọng: là những nhu cầu về lòng tự trọng, sự thành đạt và sự công nhận của mọi người. Nhu cầu này dẫn tới những thõa mãn như quyền lực, uy tín và lòng tự tin.
Nhu cầu tự hoàn thiện: theo Maslow, ông xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp của ông. Nhu cầu này là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà một con người có thể đạt tới. Tức là làm cho tiềm năng của một người đạt tới mức tối đa và hoàn thành đực mục tiêu đó. Thuyết Hai yếu tố của Herzberg (1959) Frederick Herzberg (1959) phát triển thuyết động viên của mình không dựa vào việc thỏa mãn nhu cầu, sự mong đợi hay sự công bằng mà phân tích mối quan hệ của cá nhân đối với công việc và thái độ hướng đến công việc, điều này xác định được sự thành công hay thất bại đối với cá nhân.
Herzberg cho rằng không chỉ tồn tại hai trạng thái thỏa mãn hay bất mãn ở nhân viên mà còn có các nhân tố bên trong (Motivators): Phát triển, tiến bộ, trách nhiệm, công việc, nhân biết,thành tựu và nhân tố bên ngoài (nhân tố duy trì): An toàn, địa vị, các mối quan hệ với cấp dưới, cuộc sống cá nhân, quan hệ với đồng nghiệp, mức lương, điều kiện làm việc, mối quan hệ với cấp trên, sự giám sát, chính sách và quản trị công ty. Những yếu tố này có liên quan đến động lực làm việc của nhân viên trong mối quan hệ giữa công việc và thái độ của họ. 8 Herzberg nhận thấy nhân tố động viên và nhân tố duy trì chia thành hai chiếu ảnh hưởng đến các mặt sự hài lòng của công việc. Nhân tố Nhân viên bất Nhân tố Nhân viên không Nhân viên không mãn và không còn bất mãn nhưng còn bất mãn và có thúc đẩy có động lực không có động lực động lực duy trì Hình 2.
2: Thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg (1959) Như vậy chỉ có yếu tố thuộc môi trường làm việc mới thúc đầy nhân viên. Do đó, yếu tố duy trì sẽ được xem xét trong việc xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài. Học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom (1964) Victor Vroom (1964) nhấn mạnh mối quan hệ nhận thức: Con người mong đợi cái gì? Theo học thuyết này, động lực là chức năng của sự kỳ vọng của cá nhân rằng: một sự nổ lực nhất định sẽ đem lại một thành tích nhất định và thành tích đó sẽ dẫn đến những kết quả hoặc phần thưởng như mong muốn. Học thuyết này gợi ý cho các nhà quản lý rằng cần phải làm cho người lao động hiểu được mối quan hệ trực tiếp giữa nổ lực - thành tích; thành tích - kết quả/phần thưởng cũng như cần tạo nên sự hấp dẫn của các kết quả/phần thưởng đối với người lao động.
Người quản lý cần chú ý tới tâm lý người lao động tạo cho họ sự tin tưởng rằng khi họ nỗ lực phấn đấu và dành được thành tích sẽ được tổ chức ghi nhận và khen thưởng xứng đáng. 3: Mô hình kỳ vọng của Victor Vroom (1964) 9 2. Thuyết công bằng của Adam (1963) J. Stacy Adams đề cập tới vấn đề nhận thức của người lao động về mức độ được đối xử công bằng và đúng đắn trong tổ chức.
Giả thuyết cơ bản của học thuyết là mọi người đều muốn được đối xử công bằng; các cá nhân trong tổ chức có xu hướng so sánh sự đóng góp của họ và các quyền lợi họ nhận được với sự đóng góp và các quyền lợi của những người khác. Người lao động sẽ cảm nhận được đối xử công bằng, khi cảm thấy tỷ lệ quyền lợi/đóng góp của mình ngang bằng với tỷ lệ đó ở những người khác. Tư tưởng đó được biểu diễn như sau: Quyền lợi cá nhân Quyền lợi của những người khác Công sức đóng góp của cá = Công sức đóng góp của những nhân người khác Lý thuyết này cũng có thể được xem xét ở góc độ của nghiên cứu này. Một nhân viên không thể có động lực làm việc nếu họ nhận ra rằng mình bị đối xử không công.
Do đó, để tạo động lực, người quản lý cần tạo ra và duy trì sự cân bằng giữa sự đóng góp của cá nhân và các quyền lợi mà cá nhân đó được hưởng. Học thuyết tăng cường tích cực của B.