Mở đầu, kết luận của luận văn, mục lục; danh mục các chữ viết tắt; danh mục các bảng, biểu đồ; danh mục tài liệu của tác giả đã công bố; danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: 7 Luan van Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho công chức trong các cơ quan hành chính nhà nƣớc. Thực trạng tạo động lực làm việc cho công chức phƣờng, quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội. Phƣơng hƣớng, giải pháp tạo động lực cho công chức phƣờng, quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội.
8 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 1. Một số khái niệm có liên quan 1.1 Công vụ Công vụ là một loại hoạt động nhân danh quyền lực nhà nƣớc nói đến công vụ là nói đến trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ ngƣời dân và xã hội [15] 1.2 Động cơ Động cơ là cái mà ta không trực tiếp quan sát đƣợc, chỉ có thể nhận biết đƣợc thông quan một quá trình suy diễn. Vì vậy động cơ chỉ có thể xác định thông qua việc đánh giá, suy diễn mà thôi. Động cơ là cái gì đó thúc đẩy chỉ đạo hành vi con ngƣời, tăng cƣờng cho con ngƣời nhiệt huyết thực hiện công việc, tăng cƣờng tính bền bỉ cho con ngƣời trong hành động.
Nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra các khía cạnh có thể nghiên cứu về động cơ. Định hƣớng của hành vi: ngƣời ta hƣớng tới đâu? Về cƣờng độ hành động, những nỗ lực bỏ ra nhƣ thế nào? Tính bền bỉ của hành vi: ngƣời ta duy trì hành vi đó trong thời gian bao lâu? Có những ngƣời có động cơ đối với hoạt động này, nhƣng lại không có động cơ đối với công việc kh nhà quản lý thƣờng có khuynh hƣớng cho rằng có nhân viên có động cơ làm việc, có những nhân viên không có động cơ làm việc. Thực tế là có những ngƣời có động cơ với việc này mà không có động cơ với việc khác. Về cƣờng độ hành động trƣớc một thách thức có hai loại cƣờng độ: có ngƣời thì cố hết sức để vƣợt qua thách thức, còn có ngƣời lại chùn bƣớc.
9 Luan van Về tính bền bỉ: Trƣớc trở ngại, khó khăn có ngƣời bỏ cuộc nhƣng cũng có ngƣời rất bền bỉ, nỗ lực vƣợt qua khó khăn. Từ động cơ sẽ dẫn đến hành động và ngƣợc lại khi bạn hoặc ngƣời khác hành động một điều gì thì sau nó ắt hẳn phải có động cơ thúc đẩy. Ngoài ra, động cơ cũng chính là nguồn gốc của mọi sự động viên. Chỉ khi hiểu đƣợc một ngƣời sống và hành động vì mục đích gì thì chúng ta mới có thể đƣa ra những giải pháp khích lệ phù hợp cho họ.
Động cơ đƣợc hiểu những nhu cầu, mong muốn của con ngƣời. Vì có động cơ mà con ngƣời có những hành vi thực hiện. Động cơ có tác dụng chi phối thúc đẩy ngƣời ta suy nghĩ và hành động. Các cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau.
Mức độ thúc đẩy của động cơ cũng sẽ khác nhau giữa các cá nhân cũng nhƣ trong mỗi cá nhân ở các tình huống khác nhau. Động cơ rất trừu tƣợng và khó xác định. Động cơ chịu ảnh hƣởng của rất nhiều nhân tố: nhu cầu của con ngƣời, cá tính của họ, môi trƣờng sống, tâm lý, quan điểm xã hội. Hơn nữa động cơ thƣờng biến đổi.
Khi một trong những nhân tố ảnh hƣởng đến động cơ biến đổi thì động cơ cũng thay đổi theo. Một ngƣời thất nghiệp động cơ của anh ta là tìm đƣợc công ăn việc làm, có thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình. Một ngƣời có công việc nhƣng nhu cầu của anh ta là công việc đó phải đem lại mức thu nhập hấp dẫn, động cơ lúc này thúc đẩy anh ta làm việc để trở lên giàu có. Một ngƣời có quan điểm sống an nhàn, động cơ làm việc của họ để duy trì cuộc sống ổn định, không bon chen.
Một ngƣời có tinh thần cầu tiến, động cơ thôi thúc anh ta làm việc là để có vị trí xứng đáng trong tổ chức, trong xã hội…. Vậy để nắm bắt đƣợc động cơ thúc đẩy chính quyền làm việc phải xét đến từng cá nhân chính quyền, nhu cầu của họ trong từng hoàn cảnh cụ thể và những thời điểm khác nhau. Để nắm bắt động cơ của con ngƣời chúng ta phải xác định nhu cầu của họ. Vậy nhu cầu là gì? Nhu cầu có thể đƣợc hiểu là trạng thái tâm lý mà con ngƣời mong muốn về một điều gì đó, muốn đƣợc đạt đƣợc cái gì đó.
Nhu cầu của con ngƣời là vô hạn. Trong một không gian, một thời gian cụ thể, con ngƣời có 10 Luan van những nhu cầu khác nhau. Để có thể thoả mãn đƣợc những mong muốn này họ phải nỗ lực, mong muốn càng lớn mức nỗ lực càng cao tức là động cơ càng lớn. Nếu những mong muốn này đƣợc thoả mãn thì mức độ mong muốn sẽ giảm đi.
Nhu cầu của con ngƣời rất phong phú và đa dạng. Có thể chia nhu cầu thành hai loại: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Trong mỗi con ngƣời, luôn tồn tại song song hai nhu cầu này. Nhu cầu vật chất có trƣớc nhu cầu tinh thần.
Con ngƣời có thể sống và tồn tại trƣớc hết cần những yếu tố vật chất. Họ cần cơm ăn, áo mặc hàng ngày, cần những phƣơng tiện đi lại, cần nơi ăn chốn ở, cần thực hiện các hoạt động học tập…. Tất cả những yếu tố đó thuộc về nhu cầu vật chất. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu vật chất càng tăng lên.
Nếu trƣớc kia chúng ta cần ăn no, mặc ấm thì ngày nay chúng ta cần ăn ngon ,mặc đẹp. Nhu cầu này ngày càng tăng lên và càng phức tạp hơn. Cùng với nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần của con ngƣời cũng rất phong phú, thậm chí nhu cầu tinh thần còn đa dạng và khó đạt đƣợc hơn nhu cầu vật chất. Thông thƣờng, nhu cầu tinh thần của con ngƣơi là tạo ra trạng thái tâm lý thoải mái trong cuộc sống và trong quá trình lao động.
Nhu cầu tinh thần khó kiểm soát và khó nắm bắt hơn nhu cầu vật chất. Trên thực tế mặc dù hai nhu cầu này là hai lĩnh vực khác biệt song chúng lại có mối quan hệ khăng khít nhau. Trong quá trình phân phối yếu tố vật chất lại chứa đựng yếu tố về tinh thần và ngƣợc lại, những động lực về tinh thần phải đƣợc thể hiện qua vật chất thì sẽ có ý nghĩa hơn. Cả hai yếu tố vật chất và tinh thần cùng lúc tồn tại trong bản thân công chức, nó không phải chỉ có một yêu cầu vật chất hay tinh thần mà nó có nhiều đòi hỏi khác nhau.
Trong đời sống xã hội, con ngƣời thƣờng phân biệt nhu cầu trƣớc mắt và nhu cầu lâu dài, nhu cầu riêng và nhu cầu chung. Tuy nhiên tại mỗi thời điểm công chức sẽ ƣu tiên thực hiện nhu cầu mà đƣợc coi là cấp thiết nhất. Từ lý luận trên đây tác giả cho rằng: Động cơ lao động xuất phát từ bên trong công chức là thái độ ý thức chủ quan của con ngƣời đối với hành động của mình. Động lực Động lực là sự khát khao và tự nguyện của con ngƣời làm tăng cƣờng sự nỗ lực để đạt đƣợc mục đích hay một kết quả cụ thể (nói cách khác động lực bao gồm tất cả sự nỗ lực tích cực trong hành động).
Động cơ là cái mà vì nó con ngƣời hành động. Động lực đƣợc thể hiện bởi hành động nhƣ thế nào. Động lực khác với động cơ ở chỗ: con ngƣời ai cũng có động cơ nhƣng không phải ai cũng có động lực. Động cơ đƣợc sử dụng trong hai phƣơng diện tiêu cực và tích cực, động cơ xuất phát từ nhu cầu, mong muốn của con ngƣời nhƣng động lực thƣờng mang nghĩa tích cực thúc đẩy con ngƣời phấn đấu vƣơn lên.
Động lực chịu ảnh hƣởng của nhiều nhân tố: cá nhân công chức, tổ chức mà họ tham gia và tính chất của công việc họ thực hiện. Các nhân tố này luôn thay đổi và khó nắm bắt. Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép nhằm tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân công chức.
Suy cho cùng, động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi công chức mà ra. Nhƣ vậy, mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra đƣợc động lực để công chức có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức. Để phân biệt giữa động cơ và động lực, chúng ta có thể phân tích sự giống nhau và khác nhau giữa chúng: * Giống nhau: Động lực lao động và động cơ lao động đều xuất phát từ bên trong bản than công chức và chịu sự tác động mang tính chất quyết định từ phía bản thân công chức. Động cơ và động lực lao động mang tính trìu tƣợng, đều là những cái không nhìn thấy đƣợc mà chỉ thấy đƣợc thông qua quan sát hành vi công chức rồi phỏng đoán.
12 Luan van Do có nhiều điểm tƣơng đồng nhau nên dễ dẫn tới sự nhầm lẫn. Vì vậy cần phải nắm rõ những điểm khác biệt sau đây là hết sức cần thiết và để nhận thức sâu sắc hơn về động lực lao động * Khác nhau: Động cơ lao động Động lực lao động - Chịu sự tác động lớn từ bản thân công - Chịu sự tác động lớn từ phía bản thân chức và môi trƣờng tổ chức nơi ngƣời công chức, gia đình và môi trƣờng xã lao động làm việc. hội xung quanh. - Động lực lao động nói tới sự biến đổi - Động cơ lao động nói tới sự phong về mức độ: cao hay thấp, có hay không.
phú đa dạng, cùng một lúc có thể tồn - Trả lời cho câu hỏi: “ Vì đâu mà công tại nhiều động cơ. chức làm việc cho tổ chức có hiệu quả - Trả lời cho câu hỏi: “Vì sao công đến vậy”. chức làm việc” Nguồn: tác giả tổng hợp Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện nhằm tăng cƣờng mọi sự nỗ lực của con ngƣời để đạt tới một mục đích và kết quả cụ thể nào đó của tổ chức.