CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.1 Khái niệm và vai trò của động lực lao động 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1. Động lực Động lực là sự khao khát và tự nguyện của con người nhằm tăng cường mọi nỗ lực để đạt được một mục tiêu một kết quả cụ thể nào đó [6, trang 128) Suy cho cùng động lực lao động xuất phát từ bên trong bản thân người lao động và chịu sự tác động mang tính chất quyết định từ phía bản thân người lao động. Vì thế động lực có tác động rất lớn đến quá trình và kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân. Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người cũng như trong môi trường sống và làm việc của con người.
Do đó, hành vi có động lực (bao gồm các hành vi được thúc đẩy, được khuyến khích) của người lao động trong công ty là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiểu yếu tố: văn hoá công ty, phong cách lãnh đạo, các chính sách về nhân lực của công ty đó. Ngoài ra, nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị của cá nhân trong công ty cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác tạo động lực lao động của công ty đó. Động lực gắn liền với mỗi con người, mỗi công ty, mỗi công việc và mục tiêu làm việc cụ thể. Mặc dù động lực không phải là nhân tố duy nhất quyết định tới năng suất lao động và hiệu quả công việc vì sự thực hiện công việc còn phụ thuộc vào khả năng của người lao động, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc.
Người lao động nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc nhưng họ sẽ không bộc lộ hết tài năng, phát huy mọi khả năng sẵn có của mình để hoàn thành tốt nhất công việc mà công ty giao cho. Điều này có thể lý giải tại sao một người lao động có trình độ cao nhưng khi làm việc cho công ty thì kết quả thực hiện công việc lại thấp hơn kỳ vọng của công ty, là do người đó không có động lực khi làm việc. Vì vậy, khi người lao động có động lực làm việc, họ sẽ làm việc say mê, tích cực và sáng tạo và dồn hết tâm trí, khả năng và sức lực của mình vào công việc nhằm đạt được mục tiêu của công ty cũng như của bản thân người lao động.2 Tạo động lực Nguyễn Thị Thùy- lớp K20 QT 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Tiến Hùng Để có được động lực cho người lao động làm việc thì phải tìm cách tạo ra được động lực đó.
Tạo động lực được hiểu là một hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức tác động vào quá trình của các nhà quản trị, của những người quản lý trong quá trình tạo ra sự gắng sức tự nguyện của người lao động có nghĩa là tạo được động lực làm việc cho nhân viên của mình [6,trang 128]. Tạo động lực đối với người lao động có tác động đến khả năng, tinh thần thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong công việc và luôn đóng vai trò cực kì quan trọng với toàn bộ hoạt động quản trị kinh doanh. Tạo động lực lao động là trách nhiệm và mục tiêu của nhà quản lý. Để có thể tạo được động lực lao động, nhà quản lý cần phải tìm hiểu được người lao động làm việc nhằm đạt được mục tiêu gì từ đó thúc đẩy động cơ lao động để tạo động lực lao động.
Và điều quan trọng nhất là thông qua các biện pháp chính sách có thể khai thác, sử dụng có hiệu quả và phát huy tiềm năng nguồn nhân lực của công ty .2 Vai trò của tạo động lực Tạo động lực đóng vai trò rất quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Động lực như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ lao động hăng say hơn. Mặc dù quá trình tạo động lực không tạo ra hiệu quả tức thời và đòi hỏi khá nhiều chi phí và thời gian nhưng nếu công ty thực hiện tốt được công tác này thì đem lại rất nhiều lợi ích, không chỉ cho bản thân người lao động mà còn cho công ty và cho xã hội.1 Đối với bản thân người lao động Động lực là yếu tố thúc đẩy người lao động làm việc nhiệt tình và có trách nhiệm hơn trong công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đạt năng suất và chất lượng cao, từ đó làm tăng doanh thu để đáp ứng mục tiêu của công ty. Khi mục tiêu của công ty đạt được thì sẽ có điều kiện nâng cao mức sống về vật chất lẫn tinh thần cho người lao động.
Bên cạnh đó, tạo động lực giúp người lao động có tinh thần làm việc thoải mái, các áp lực tâm lý do công việc đem lại không làm họ cảm thấy mệt mỏi, chán Nguyễn Thị Thùy- lớp K20 QT 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Tiến Hùng nản. Khi tinh thần làm việc thoải mái, người lao động dễ phát huy tính sáng tạo trong công việc giúp công ty có nhiều cách làm mới hiệu quả làm giảm được chí phí, nâng cao năng suất lao động, hiệu suất công việc và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. Khi người lao động có động lực thì người lao động cảm thấy hiểu rõ và yêu thích công việc.
Ngoài ra họ còn nhìn thấy được sự quan tâm của công ty dành cho họ và sẽ gắn bó với công ty hiện tại của mình.2 Đối với công ty Tạo động lực là một hoạt động lớn và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công tác quản lý, nó có tác động đến việc khuyến khích lao động làm việc hăng say và tích cực, giúp cho công ty khai thác tối đa khả năng tiềm tàng của người lao động và sử dụng hiệu quả nhất nguồn nhân lực của mình, nâng cao năng suất lao động, làm cho công ty hoạt động hiệu quả, thúc đẩy sản xuất ngày càng phát triển. Một chính sách tạo động lực tốt sẽ giúp cho công ty có một đội ngũ lao động giỏi, trung thành, từ đó giảm được chi phí phải tuyển dụng, đào tạo lại thường xuyên. Ngoài ra, nó còn giúp cho công ty thu hút được nhiều lao động có tay nghề, trình độ chuyên môn cao, từ đó góp phần nâng cao uy tín của công ty. Việc tạo động lực thường xuyên sẽ làm cải thiện các mối quan hệ giữa người lao động với nhau trong công ty và giữa người lao động với công ty , tạo bầu không khí làm việc thoải mái, thân thiện góp phần xây dựng văn hoá công ty được lành mạnh tốt đẹp.3 Đối với xã hội Một trong những mục tiêu chiến lược của sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững là con người, bởi tất cả mọi của cải vật chất và tinh thần của xã hội đều do con người tạo ra, trong đó lao động đóng vai trò trực tiếp sản xuất ra của cải đó.
Để tăng năng suất lao động của cá nhân cũng như của công ty, con người phải có động lực lao động để thực hiện. Khi năng suất suất lao động tăng sẽ làm cho của cải vật chất tạo ra cho xã hội ngày càng nhiều và do vậy nền kinh tế - xã hội có sự tăng trưởng. Kinh tế - xã hội tăng trưởng sẽ giúp con người có điều kiện thoả mãn những nhu cầu của mình ngày càng đa dạng, phong phú hơn. Điều này cho thấy động lực đã gián tiếp xây dựng xã hội phát triển dựa trên sự phát triển của các Nguyễn Thị Thùy- lớp K20 QT 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Nguyễn Tiến Hùng công ty.2 Một số học thuyết tạo động lực 1.1 Học thuyết nhu cầu của Maslow: Maslow cho rằng con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao khát được thỏa mãn. Maslow chia các nhu cầu đó thành năm loại và sắp xếp theo thứ bậc như sau: Nguồn [6, trang 130] Nhu cầu sinh lý: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể hoặc nhu cầu sinh lý bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, các nhu cầu làm cho con người thoải mái…đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người. Trong hình, ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất. Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế Nguyễn Thị Thùy- lớp K20 QT 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Nguyễn Tiến Hùng ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được. Nhu cầu về an toàn: Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt. Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần. Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm.
Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ… Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở…Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, triết học cũng là do nhu cầu an toàn này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần. Các chế độ bảo hiểm xã hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để dành tiết kiệm…cũng chính là thể hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này. Nhu cầu về xã hội: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương.