CHƯƠNG 1. TỐNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu VÀ Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐÔNG Lực CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG TỐ CHỨC 1. Tống quan tình hình nghiên cứu Trên thế giới, công tác tạo động lực lao động là một chú đề được nhiều các học giả quan tâm nghiên cứu, được nhiều doanh nghiệp quan tâm trong quá trình quản trị doanh nghiệp. Tại Việt Nam, xuất hiện nhiều bài nghiên cứu về chủ đề này đã được công bố trên các ấn phấm sách, báo, luận án, luận văn.
Trong bối cảnh các doanh nghiệp Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, chủ đề tạo động lực cho người lao động không phải là chù đề mới, tuy nhiên một số doanh nghiệp vẫn chưa thực sự quan tâm về tầm quan trọng của tạo động lực cho người lao động. Các bài nghiên cứu về tạo động lực cho người lao động trong các Tập đoàn kinh tế tư nhân - với quy mô doanh nghiệp lớn với nhiều cấp quản trị, nhiều công ty con, công ty thành viên cũng rất ít. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Các nghiên cứu về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp đã xuất hiện từ lâu, đặc biệt trong lĩnh vực quản trị nhân sự, một trong những nhân tố mà các nhà khoa học đã khẳng định là quan trọng nhất trong một tổ chức trong suốt thế kỷ vừa qua là tạo động lực làm việc. Để phát triển nguồn nhân lực của một doanh nghiệp, các nhà khoa học cũng có không ít các nghicn cứu chuycn sâu về vấn đề tạo động lực cho người lao động tại các doanh nghiệp.
Trên thế giới đã có nhiều các học thuyết khác nhau hướng đến việc nồ lực giải thích bản chất của động lực làm việc. Anne Bruce (2002), How to motivate every employee: 24 proven tactics to spark productivity in the workplace, do McGraw - Hill Professional Education phát hành. Cuốn sách đà đề cập 24 cách khích lệ tinh thần từng nhân viên như: tạo ra đội ngũ lao động đầy động cơ, biết cách thúc đẩy nhân viên, củng cố mối liên hệ giừa động cơ và thành tích, giúp nhân viên đạt hiệu quả cao hơn trong công việc, phân minh về khen thưởng và công nhận, khen thưởng và khích lệ tinh thần, giữ chân 4 nhân viên.từ đó tạo dựng và duy trì tinh thân làm việc cao cho đội ngũ nhân viên trong tổ chức và tăng thêm giá trị cho tổ chức mình. Denibutun (2012) đã nghiên cứu “Động lực làm việc: khung lý thuyết”.
Bài nghiên cứu xem xét động lực như một quá trình tâm lý cơ bản của con người và được thực hiện nhằm tìm ra sự khác nhau giữa các lý thuyết về động lực làm việc. Các lý thuyết về động lực giúp chúng ta hiểu rõ hơn hành vi của một người nhất định tại một thời điểm nhất định. Có thể chia các học thuyết này thành 2 nhóm: Nhóm 1: Nhóm học thuyết quá trình nghiên cứu quá trình tư duy của con người. Việc con người thực hiện nhừng hành động khác nhau của trong công việc do chịu ảnh hưởng của quá trình tư duy.
Nhóm học thuyết này bao gồm các lý thuyết sau: Lý thuyết mục tiêu của Locke (1960); Thuyết thẩm quyền cùa Heider và Kelley (1958), Thuyết kỳ vọng của Vroom (1968); Thuyết công bằng của Adam (1963). Nhóm 2: Nhóm học thuyết nội dung, nhóm học thuyết này tập trung nhận dạng sự ảnh hưởng của nhu cầu đến hành vi của cùa cá nhân ở nơi họ làm việc. Nhóm này bao gồm các lý thuyết sau: Lý thuyết tháp nhu cầu của Maslow (1943); Mô hình tháp nhu cầu điều chỉnh cùa Alderfer (mô hình này là sự rút gọn, giản lược từ mô hình gốc của Maslow); Thuyết thành tựu thúc đẩy của McClelland (gồm: nhu cầu thành tựu; nhu càu quyền lực; nhu cầu liên minh); Thuyết 2 yếu tổ cùa Herzberg (gồm nhóm yếu tố thúc đẩy và nhóm yếu tố duy trì). Do không có nhiều thời gian để khảo sát hết những công trình nghiên cứu ở nước ngoài, song từ mot số nghiên cứu trên đà cho thấy tạo động lực làm việc cho người lao động là vấn đề quan trọng, cần được xem xét một cách nghiêm túc.
Các nghiên cứu đà chỉ rõ những nội dung, các nhân tố chủ yếu và từ đó làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn của tạo động lực cho người lao động. Đây là vấn đề mà các nhà quản lý đều phải quan tâm và thực hiện nhằm tạo động lực cho người lao động thực hiện tốt các mục tiêu đặt ra cho cá nhân, các tổ chức, đặc biệt trong các doanh nghiệp. Tình hình nghiên cứu trong nước Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang mở rộng giao lưu, quan hệ 5 thương mại với các nước trên thê giới do đó các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước rất nhiều thách thức vì phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài đang tiến hành đầu tư vào Việt Nam. Đe có khả năng cạnh tranh thì việc nâng cao năng suất làm việc của người lao động là yêu tố quan trọng mang tính quyết định.
Vì vậy, việc tạo động lực làm việc cho người lao động đang được các tố chức, doanh nghiệp đặc biệt quan tâm. Tại Việt Nam, việc nghiên cứu tạo động lực làm việc chù yếu được trình bày tại 03 thể loại gồm: giáo trình về quản trị nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và các luận vãn thạc sĩ, tiến sĩ về tạo động lực làm việc. về giủo trình, Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm - Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội 2015. Hiện nay cuốn giáo trình này thường được sử dụng tại các trường Đại học, Cao đẳng, vấn đề tạo động lực làm việc cho người lao động được trình bày thành một chương riêng biệt trong cuốn giáo trình.
Cuốn giáo trình Quản trị nhân lực đã nêu rõ định nghĩa về động lực lao động và các yếu tố ảnh hưởng tới động lực lao động. Bên cạnh đó, cuốn giáo trình cũng giới thiệu sơ qua nội dung cùa một số học thuyết cơ bản về tạo động lực như học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow, học thuyết công bằng, học thuyết kỳ vọng. - Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Đoàn Thị Thu Hà, Đỗ Thị Hải Hà - Giáo trình Quản lý học, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội 2015 cũng có một chương tạo động lực riêng trong giáo trình. Bên cạnh việc đưa ra những khái niệm về tạo động lực, một số học thuyết tạo động lực, tập thế các tác giả cũng đưa ra lý luận về quy trình tạo động lực.
- Bùi Anh Tuấn, Bùi Thúy Hường - Giáo trình Hành vi của tổ chức, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội 2014 cũng đã hệ thống hóa chi tiết về tạo động lực. về nghiên cứu khoa học, - Trương Minh Đức, 2011. ứng dụng mô hình định lượng đánh giá mức độ tạo động lực làm việc cho nhân viên công ty TNHH ERICSSON tại Việt Nam. Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, số 27, trang 240 - 247.
Bài viết tập trung phân tích bốn vấn đề chính: (i) cơ sở lý thuyết của việc tạo động lực, (ii) phương pháp nghiên cứu vấn đề thực tế của doanh nghiệp, (iii) khảo sát mô hình 6 hôi quy, (iv) các kêt luận và khuyên nghị rút ra từ kêt quả nghiên cứu. Tiên sĩ Trương Minh Đức đã ứng dụng học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow để xây dựng mô hình nghiên cứu. Mô hình gồm 5 biến lớn bao hàm 16 biến con và được biểu diễn bằng hàm số sau: f(ĐL) = f (NC, AT, QH, TTR, TH). Trong đó, động lực làm việc (ĐL) là biến phụ thuộc; các biến nhu cầu sinh học (NC), nhu cầu an toàn (AT), nhu cầu quan hệ xã hội (QH), nhu cầu được tôn trọng (TTR), nhu cầu thể hiện bản thân (TH) là các biến độc lập.
Sau khi dùng công cụ SPSS xử lý các số liệu điều tra thực tế, nghiên cứu cho thấy có ba nhân tố ảnh hưởng tới mức độ tạo động lực làm việc tại Công ty TNHH Ericsson Việt Nam, cụ thể: nhân tố vật chất và điều kiện; nhân tố khuyến khích động viên và đảm bảo an toàn công việc; nhân tố mong muốn thế hiện năng lực. về luận vãn, luận án tác giả tìm hiểu thấy trong những năm gần đây có khá nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ viết về đề tài tạo động lực làm việc cho người lao động. Tác giả xin giới thiệu sơ qua một số luận văn, luận án dưới đây. Tạo động lực cho người lao động quản lý trong doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội đến năm 2020.
Đại học Kinh tế Quốc Dân. Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng động lực làm việc của người lao động, các nhân tố tạo động lực lao người lao động trong một số doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội. Trên cơ sở đó, tác giả Vũ Thị Uyên đã đề xuất một số giải pháp nhằm tạo động lực cho người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội đến năm 2020. Luận án đã hệ thống hóa những lý luận căn bản về lao động quản lý và vai trò của lao động quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hệ thống và đề xuất về động lực lao động, các yếu tố tạo động lực, các biện pháp tạo động lực làm việc cho người lao động và lao động quản lý trong doanh nghiệp. Như vậy, luận án tập trung chù yếu vào đối tượng là lao động quản lý. Đây là điếm khác biệt với đề tài mà tác giả đang nghiên cứu. - Nguyễn Thị Duycn, 2014.
Hoàn thiện công tác tạo động lực cho lực lượng bán hàng tại Công ty TNHH thương mại FPT. Đại học Kinh tế, 7 Đại học Quồc gia Hà Nội. Tác giả Nguyên Thị Duyên đã đi sâu vào phân tích các yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc tạo động lực làm việc cho nhân viên bán hàng tại Công ty TNHH thương mại FPT. Từ đó tác giả cũng đà đưa ra quan điếm nhu cầu tạo động lực giữa các đối tượng khác nhau là khác nhau và đối với mồi đối tượng cần có chính sách tạo động lực riêng.
Tại phần giải pháp, Nguyễn Thị Duyên nhấn mạnh để nâng cao hiệu quả công tác tạo động lực làm việc cần kết hợp cả biện pháp tài chính và biện pháp phi tài chính. Các công trình nghiên cứu trên hầu hết ở tầm vĩ mô nhưng đối tượng nghiên cứu là khác nhau, thời điểm nghiên cứu khác nhau, lĩnh vực nghiên cứu khác nhau và đặc điềm tại mỗi công ty cũng không giống nhau, nên không hoàn toàn áp dụng được ở các doanh nghiệp khác nhau.