CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Trên thế giới, công tác tạo động lực lao động là một chủ đề được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu, được nhiều doanh nghiệp quan tâm trong quá trình quản trị doanh nghiệp. Tại Việt Nam, xuất hiện nhiều bài nghiên cứu về chủ đề này đã được công bố trên các ấn phẩm sách, báo, luận văn, luận án.
Trong bối cảnh các doanh nghiệp Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, chủ đề tạo động lực không phải là chủ đề mới, tuy nhiên một số doanh nghiệp vẫn chưa thực sự nhận ra tầm quan trọng của tạo động lực cho người lao động. Trên thế giới cũng như Việt Nam, có hàng loạt các công trình nghiên cứu về vấn đề này và đã được đề cập ở nhiều luận văn/luận án. Ở chương này, tác giả tập trung vào việc tổng hợp các công trình nghiên cứu trong thời gian gần đây về tạo động lực và tạo động lực cho NLĐ trong DN có liên quan trực tiếp, làm cơ sở lý luận cho các phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp của luận văn. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu của Evelyn và cộng sự (2021) trong nghiên cứu “Tác động của việc đo lường hiệu suất đối với động lực và hiệu suất làm việc tự chủ của người quản lý” nhận định: trong thị trường lao động ngày nay, việc duy trì vốn con người, sức khỏe và sự hài lòng trong công việc của các nhà quản lý và nhân viên được coi là những yếu tố quyết định chính đến hiệu quả hoạt động bền vững của công ty.
Vì vậy các DN cần thiết kế được hệ thống đo lường hiệu suất với mục đích nâng cao hiệu suất, sự hài lòng và động lực của nhân viên cũng như người quản lý. Dựa trên lý thuyết tự quyết định, nghiên cứu này mô tả các cơ chế tạo động lực có thể giải thích mối quan hệ giữa việc cho phép đo lường hiệu suất và hiệu suất của người quản lý. Kết quả của nghiên cứu xác nhận rằng động lực tự chủ trong công việc là yếu tố trung gian giữa việc cho phép hệ thống đo lường hiệu suất và hiệu suất của người quản lý thông qua việc đáp ứng ba nhu cầu tâm lý cơ bản: nhu cầu tự chủ, nhu cầu phát triển năng lực và nhu cầu quan hệ. 5 Zhao và các cộng sự (2016) trong nghiên cứu về tạo động lực làm việc cho NLĐ tuyến đầu: "Vai trò của Đặc điểm Công việc trong Sự Hài lòng với Công việc và Cuộc sống" đã xem xét động lực nội tại của công việc lĩnh vực khách sạn và ảnh hưởng của các đặc điểm công việc này tới sự hài lòng của NLĐ.
Dữ liệu được thu thập từ câu trả lời khảo sát của 401 NLĐ tuyến đầu làm việc tại 6 khách sạn cao cấp ở Trung Quốc. Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị rằng các tổ chức nói chung và các khách sạn nên phân tích công việc của NLĐ để cải thiện động lực lao động thực chất của họ. Yumiko Taguchi (2015) đã thực hiện nghiên cứu về “Các yếu tố hình thành động lực làm việc ở Nhật Bản” để xem xét các yếu tố hình thành động lực làm việc của người lao động tại Nhật Bản. Nghiên cứu tiến hành theo các bước sau: (1) trích xuất các yếu tố hình thành động lực làm việc, dựa trên các tài liệu; (2) điều tra động lực làm việc của nhân viên trong các công ty Nhật Bản bằng khảo sát bảng câu hỏi; (3) xem xét yếu tố nào phản ánh động lực và yếu tố nào không.
Kết quả nghiên cứu đã khám phá 9 yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động Nhật Bản là: Đánh giá nhân viên; mục tiêu của công ty; cơ hội thăng tiến; thu nhập; mối quan hệ trong tổ chức; đặc điểm công việc; điều kiện nơi làm việc; cơ cấu tổ chức, cân bằng cuộc sống và công việc. Teck-Hong và Waheed (2011) trong nghiên cứu: “Lý thuyết Động lực-Hygiene của Herzberg và Sự Hài lòng trong Công việc trong Ngành Bán lẻ tại Malaysia: Tác động Trung gian của Tình yêu với Tiền" đã đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tổ tác động đến động lực làm việc để tiến hành cuộc khảo sát với nhân viên bán hàng tại Malaysia. Kết quả các phân tích đã chứng minh rằng động lực quan trọng nhất là điều kiện làm việc, sự công nhận. Các bằng chứng kết luận rằng các nhân tố duy trì hiệu quả hơn nhân tố động viên trong việc tạo động lực cho nhân viên bán hàng.
Islam và cộng sự (2015) trong nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng tạo động lực làm việc của công nhân ngành may”, với đối tượng khảo sát là công nhân đang làm việc tại các công ty may Bangladesh. Nghiên cứu đã khám phá 05 nhân tố ảnh hưởng đến tạo động lực làm việc của công nhân là: Tiền lương và các khoản thanh 6 toán; điều kiện làm việc; điều kiện môi trường; sự an toàn và khen thưởng. Hạn chế của nghiên cứu là trong mô hình đề xuất chưa đề cập đến các yếu tố các mối quan hệ nơi làm việc, các đặc điểm cá nhân, cũng như mẫu khảo sát nhỏ chưa đủ đại diện cho toàn ngành. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Nguyễn Thị Hoài Hương (2016) trong nghiên cứu: “Tạo động lực lao động tại công ty cổ phần Softtech” đã trình cơ sở lý luận cơ bản về động lực lao động và tạo động lực cho người lao động; các học thuyết về tạo động lực, từ đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến động lực lao động, đưa ra một số kinh nghiệm về tạo động lực của một số doanh nghiệp tiêu biểu nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm cho công ty cổ phần Softech.
Để tạo động lực hơn nữa cho người lao động trong công ty nói riêng và các lao động tại các doanh nghiệp nói riêng, tác giả xin có một số khuyến nghị như sau: Tác giả khuyến nghị đến các cơ quan chức năng trung ương và địa phương nên tổ chức những cuộc thi về lĩnh vực công nghệ, những cuộc hội thảo trao đổi kinh nghiệm để các doanh nghiệp cùng ngành hàng năm có cơ hội gặp gỡ, học hỏi lẫn nhau, tạo không khí thi đua và khuyến khích công người lao động. Tác giả khuyến nghị đến Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ cần quan tâm sát sao đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung và các doanh nghiệp cổ phần nói riêng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội phát triển. Lưu Thị Bích Ngọc và cộng sự (2013) đã nghiên cứu: “Những nhân tố tác động đến động lực làm việc của người lao động trong khách sạn”. Bài viết chỉ ra rằng người lao động có đồng thời động lực bên trong và bên ngoài.
Vì vậy, các nhà quản lý nên sử dụng hỗn hợp các phương pháp: tiền thưởng, khen ngợi, thúc đẩy,. nhằm khuyến khích người lao động hiệu quả hơn. Lưu Thị Hoa và Nguyễn Thị Hồng Vân (2019) với đề tài "Ảnh hưởng của động lực làm việc tới hiệu quả công việc của người lao động tại các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam". Nghiên cứu này tập trung vào việc khảo sát và phân tích ảnh hưởng của động lực làm việc tới hiệu quả công việc của người lao động tại các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam.
Trần Thị Thanh Trúc (2015) nghiên cứu về "Yếu tố động lực làm việc của cán 7 bộ công nhân viên trong các tổ chức công nghiệp ở miền Bắc Việt Nam". Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá yếu tố động lực làm việc của cán bộ công nhân viên trong các tổ chức công nghiệp ở miền Bắc Việt Nam. Đề tài “Hoàn thiện công tác tạo động lực ở Công ty TNHH cửa sổ nhựa Châu Âu (Euro Window)” của tác giả Đỗ Thị Thu, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2008 đã đưa ra cơ sở lý luận về công tác tạo động lực lao động trong doanh nghiệp một cách khá đầy đủ. Tuy nhiên đề tài chưa đi sâu phân tích các chính sách đang thực hiện tại công ty, chưa làm rõ ảnh hưởng của các chính sách, chế độ đó đến công tác tạo động lực lao động tại công ty.
Các giải pháp để tạo động lực lao động mà tác giả đề xuất chủ yếu còn mang tính khái quát, bài học kinh nghiệm rút ra cho các công ty khác cũng chưa được sâu sắc. Tuy có khá nhiều các công trình nghiên cứu về động lực lao động như đã đề cập ở trên nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu tạo động lực lao động tại một đơn vị cụ thể là Công ty cổ phần VCCorp 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực Hiện nay, có nhiều nghiên cứu xem xét việc tạo động lực làm việc cho người lao động ở những góc độ khác nhau và cách tiếp cận khác nhau, như lý thuyết về tháp nhu cầu của Maslow, lý thuyết hai yếu tố của Herzberg, lý thuyết công bằng của J. Adams, lý thuyết kỳ vọng của V.
Điều đó cho thấy, vấn đề tạo động lực trong lao động là một vấn đề phức tạp, chịu sự chi phối của nhiều mặt, nhiều yếu tố. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm động lực Động lực là một khái niệm liên quan đến sức mạnh tâm lý và năng lượng nội tại của con người, thúc đẩy họ thực hiện các hành động, cống hiến cho công việc, và đạt được mục tiêu. Đó là lý do tại sao động lực đóng vai trò quan trọng trong việc định hình hành vi và hướng dẫn con người trong việc thực hiện các hoạt động cụ thể.
Nó là động cơ để thúc đẩy con người vượt qua khó khăn và gắn bó với công việc một cách tốt nhất có thể. Động lực là một trong những yếu tố dẫn đến hiệu suất làm việc. Động lực được định nghĩa là khao khát đạt được một mục tiêu hoặc mức độ hiệu suất nhất định, dẫn 8 đến hành vi hướng tới mục tiêu. Khi chúng ta nói ai đó có động lực, có nghĩa là họ đang cố gắng hết sức để hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể.
Động lực rõ ràng là quan trọng nếu ai đó muốn thực hiện tốt công việc; tuy nhiên, động lực không đủ. Khả năng - có nghĩa là có những kỹ năng và kiến thức cần thiết để thực hiện công việc - cũng quan trọng và đôi khi là yếu tố quyết định hiệu quả.