Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tạo động lực cho người lao động tại Công ty TNHH SETA International Việt Nam. - Chương 2: Thực trạng về tạo động lực cho người lao động tại Công ty TNHH SETA International Việt Nam. - Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm tạo động lực cho người lao động tại Công ty TNHH SETA International Việt Nam. Tổng quan các công trình nghiên cứu cho đến nay 6.
Các công trình nghiên cứu trong nước Tạp chí khoa học của Đại học Huế số 60 năm 2010 có bài viết “Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên. Nghiên cứu trường hợp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu, chi nhánh Huế”. Bài viết đề cập tới 5 yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên bao gồm cả yếu tố tài chính và phi tài chính như: lương và phúc lợi, môi trường làm việc hay sự hứng thú trong công việc. Nội dung bài viết tiến hành phân tích các yếu được coi là có thể tác động đến động lực làm việc, được đo bằng thang đo Likert.
Trên cơ sở đó, đưa ra kết luận về các yếu tố gây ảnh hưởng đến động lực làm việc và đưa ra lưu ý nhằm tăng cường động lực làm việc. Bài báo của PGS.TS Hoàng Văn Hải, ThS. Nguyễn Anh Tuấn và ThS. Nguyễn Phương Mai trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và Kinh Doanh số 27 năm 2011, trang 135 đến141 về “Đổi mới chính sách đãi ngộ nhân sự của các doanh nghiệp thời kỳ hậu gia nhập WTO” cho rằng chính sách đãi ngộ thấp khiến cho năng suất lao động không cao và là một phần nguyên nhân khiến cho nhân lực trình độ cao rời đi và chuyển sang các khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Việc gia nhập WTO khiến cho các doanh nghiệp trong nước phải nhìn nhận và thay đổi các chính sách đãi ngộ để gia tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Bài viết “Những nhân tố tác động đến động lực làm việc của nhân viên trong khách sạn” được đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, 3 số 49 năm 2013 tiến hành nghiên cứu các nhân tố tác động đến động lực lao động của nhân viên trong ngành khách sạn bằng cách khảo sát nhân viên thuộc các bộ phận lễ tân, buồng, nhà hàng và các bộ phận khác. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhân viên có động lực làm việc hơn khi có sự hỗ trợ từ cấp trên và có mối quan hệ tốt với đồng nghiệp. Nhân viên cảm thấy công việc có ý nghĩa hơn khi được trao quyền ra quyết định và có nhiều động lực hơn khi doanh nghiệp chú trọng đến hoạt động đào tạo.
Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của đề tài Chủ đề tạo động lực cho người lao động được nhiều bài nghiên cứu trong nước và nước ngoài đề cập dựa trên nhiều hướng tiếp cận khác nhau và các thời điểm khác nhau. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện tại và với đặc thù của ngành và của doanh nghiệp, công tác tạo động lực cho người lao động tại Công ty TNHH SETA International Việt Nam vẫn là vấn đề mà học viên quan tâm. Kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu đồng thời kết hợp thu thập dữ liệu mới, Đề án Thạc sĩ này sẽ tìm ra các giải pháp tạo động lực lao động cho người lao động tại Công ty TNHH SETA International Việt Nam. Đề án sẽ phân tích thực trạng về tạo động lực tại Công ty TNHH SETA International Việt Nam, trên cơ sở này, đưa ra các giải pháp tạo động lực lao động lực cho nguời lao động.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG. Tạo động lực lao động 1. Động lực lao động và ý nghĩa của động lực lao động Theo Giáo trình Quản trị nhân lực của nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân: “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức” (Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm, 2007, tr. Theo Robert Kreitner, đồng tác giả của cuốn “Organization Behavior” cho rằng: “Động lực là một quá trình tâm lý mang lại mục đích và định hướng cho hành vi”.
Theo một hướng tiếp cận khác, một định nghĩa khác về động lực lao động bởi Koontz và O’Donnell – hai đồng tác giả của cuốn “Principles of Management” cho rằng: “Động lực là một thuật ngữ khái quát được áp dụng cho toàn bộ nhóm các động cơ, mong muốn, nhu cầu, mong ước và các động lực tương tự thúc đẩy một cá nhân hay một nhóm người làm việc”. Vậy có thể động lực lao động là toàn bộ những yếu tố thúc đẩy sự hăng hái, nhiệt tình khi làm việc của người lao động, khiến cho người lao động nâng cao năng suất và hiệu quả công việc, làm tăng thêm sự cam kết và gắn bó của người lao động với công việc họ đang làm và doanh nghiệp nơi họ làm việc, qua đó nhằm đạt được kỳ vọng về yếu tố vật chất hoặc yếu tố tinh thần hoặc cả hai. Động lực lao động có vai trò giúp cho người lao động có sự hăng hái, tự nguyện trong công việc, giúp người lao động có ý thức hoàn thiện và phát triển bản thân trong công việc cũng như có sự nỗ lực để hoàn thành công việc. Tạo động lực lao động và tầm quan trọng của tạo động lực lao động Theo PGS.TS Lê Thanh Hà (2011), “Tạo động lực là xây dựng và thực thi một hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản trị tác động đến người lao động khiến cho người lao động yêu thích và sáng tạo hơn trong công việc để đạt được kết quả tốt nhất có thể đối với mỗi nhiệm vụ cụ thể được giao”.
Tạo động lực lao động bao gồm xác định nhu cầu và thoả mãn lợi ích của người lao động bằng những chính sách và biện pháp phù hợp để người lao động có thể thể đạt được năng suất lao động tốt nhất để đạt được mục tiêu của tổ chức. Đối với doanh nghiệp, tạo động lực có vai trò như sau: 5 Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động: tạo động lực giúp duy trì tinh thần và cũng như tạo thêm nhuệ khí để người lao động thực hiện công việc một cách hăng say, hứng thú để nâng cao hiệu quả và năng suất làm việc. Qua đó không chỉ góp phần gía trị mà người lao động có thể đóng góp cho tổ chức/doanh nghiệp mà còn giúp chính cá nhân đó đạt được những mục tiêu cá nhân trong công việc và đời sống. Thu hút và giữ chân nhân sự: người lao động có sự gắn bó, cam kết lâu dài với doanh nghiệp, có sự hứng thú và niềm yêu thích với công việc khi có sự thúc đẩy về mặt tinh thần.
Trong hoạt động tuyển dụng lao động, hoạt động tạo động lực là một yếu tố quan trọng để giúp doanh nghiệp tạo dựng niềm tin của người lao động nhằm tăng khả năng tìm được các ứng viên phù hợp. Như vậy, tạo động lực giúp doanh nghiệp gia tăng khả năng duy trì nhân sự và thu hút người lao động phù hợp với doanh nghiệp. Ngoài ra, hiệu quả và năng suất lao động được nâng cao của từ phía người lao động sẽ giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn. Một số học thuyết về tạo động lực cho người lao động Học thuyết hệ thống hai yếu tố của Frederick Herzberg Học thuyết này cho rằng sự thoả mãn trong công việc tạo nên động lực lao động.
Sự thoả mãn và không thoả mãn trong công việc được quyết định bởi hai nhóm yếu tố duy trì và tạo động lực. Các yếu tố tạo động lực tạo ra sự thoả mãn còn các yếu tố duy trì giúp ngăn chặn sự không thoả mãn trong công việc. Các yếu tố tạo động lực có thể được kể đến như: sự công nhận, cơ hội phát triển sự nghiệp và trách nhiệm của công việc. Các yếu tố duy trì là tiền lương, thưởng, quan hệ với đồng nghiệp, môi trường làm việc, cách quản trị của tổ chức/doanh nghiệp.
Yếu tố duy trì bao gồm tiền lương, chính sách phúc lợi, sự giám sát trong công việc, môi trường lao động và sự đảm bảo của công việc. Yếu tố duy trì là yếu tố tạo động lực: tính chất công việc, cơ hội thăng tiến hay thành tích trong công việc. Những yếu tố duy trì chỉ có làm giảm thiểu sự bất mãn, còn các yếu tố tạo động lực mới có ý nghĩa quyết định trong việc tăng năng suất lao động.G của Clayton Aldefer Dựa trên Học thuyết thức bậc nhu cầu của Maslow, học thuyết E.G cho rằng con người luôn cố gắng thoả mãn ba nhu cầu đồng thời bao gồm: - Nhu cầu tồn tại: là những ham muốn về vật chất và sinh lý. - Nhu cầu quan hệ: là tất cả những nhu cầu liên quan đến mối quan hệ của một con 6 người với những người khác.
- Nhu cầu phát triển: là nhu cầu mà cá nhân mong muốn mình có ảnh hưởng tích cực với bản thân và môi trường bên ngoài. Học thuyết này cũng cho rằng, nếu nhu cầu ở bậc cao hơn không được thoả mãn thì con người có xu hướng nỗ lực để đáp ứng nhu cầu thấp hơn và khi nhu cầu ở bậc thấp hơn được thoả mãn, con người sẽ tiến tới việc thoả mãn nhu cầu ở bậc cao hơn. Học thuyết này cho rằng, mỗi cá nhân có sự ưu tiên khác nhau cho mỗi loại nhu cầu trên và mức độ rõ ràng của từng nhu cầu của mỗi người là khác nhau. Học thuyết thứ bậc nhu cầu của Maslow Theo Abraham Maslow, nhu cầu của con người được chia làm năm cấp độ từ thấp nhất tới cao nhất.
Khi một nhu cầu được thoả mãn thì nhu cầu tiếp theo ở cấp bậc cao hơn sẽ trở thành động lực.1: Tháp nhu cầu Maslow Nguồn: Abraham Maslow, 1943 Năm cấp bậc của thang đo được xếp theo thứ tự như sau: - Nhu cầu cơ bản thiết yếu: nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sông như ăn, uống, ngủ nghỉ và các nhu cầu sinh học khác. - Nhu cầu được an toàn: nhu cầu mà con người muốn được bảo vệ, có sự an toàn về thân thể và tinh thần, có sự phòng ngừa rủi ro trong cuộc sống. - Nhu cầu được hoà nhập: là nhu cầu yêu thương, gắn kết với cộng đồng, xã hội, kết giao bạn bè và các mối quan hệ giữa con người với con người.