Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về tạo động lực lao động tại tổ chức 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tạo động lực lao động 1. Các công trình nghiên cứu trong nước Tạo động lực lao động là vấn đề quan trọng được đề cập đến trong rất nhiều công trình nghiên cứu lớn nhỏ khác nhau.
Trong đó, một điều dễ nhận thấy, tạo động lực lao động luôn xuất hiện trong bất kỳ cuốn sách viết về quan trị nhân lực nào. Điều này minh chứng vi trí đặc biệt quan trọng của tạo động lực lao động trong hệ thống các hoạt động của quản tri nhân lực. Tại Việt Nam, một số sách, giáo trình tiêu biểu có tiếp cận về tạo động lực tiêu biểu như: Nguyễn Văn Điềm & Nguyễn Ngọc Quân (2007); Đoàn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2002); Lê Thanh Hà (2010); Trần Kim Dung (2018);. Trong đó, nội dung của các sách, giáo trình hiện nay đều thống nhất cho rằng, tạo động lực là vẫn đề quan trọng, có nhiều phương pháp để tiếp cận và tạo động lực lao động cho người lao động.
Trong các phương pháp này, các tổ chức cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp kích thích vật chất và phi vật chất. Bởi, mỗi phương pháp có những ưu điểm, cách thức tác động, cường độ tác động khác nhau. Ngoài các sách giáo trình viết theo dạng cơ sở lý luận và cách tiếp cận chung về tạo động lực, các công trình nghiên cứu cụ thê đối với đối tượng, phạm vi khác nhau cũng là nguồn tài liệu quý báu để bản thân học viên nghiên cứu và kế thừa. Một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam về tạo động lực lao động có thé ké đến như: Hoàng Thị Hồng Nhung (2015) đã nghiên cứu vấn đề tạo động lực cho người lao động tại Tổng công ty 789 — Bộ Quốc Phòng.
Nội dung luận văn đã 7 chi ra các yếu tô tao động lực lao động thông qua vật chat va tinh than. Đây có thé coi là cách tiếp cận phù hợp trong bối cảnh hiện nay, khi các công ty phần nào vẫn đang trong quá trình hồi phục đo tác động của dịch Covid 19. Nguyễn Thị Hoa (2016), trong luận văn về tạo động lực cho đội ngũ nhân viên kinh doanh tại công ty TNHH Đầu tư Thương mại và Dịch vụ Long Hưng, đã nhắn mạnh rõ tam quan trọng và đặc điểm của đội ngũ nhân viên kinh doanh đối với một công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ. Luận văn đã đưa ra nhiều giải pháp mang tính tích cực nhằm nâng cao khả năng tạo động lực cho nhóm lao động này.
Tuy nhiên, hạn chế của luận văn là chưa đánh giá một cách đúng mức hiện trạng động lực lao động của nhóm nhân viên kinh doanh tại công ty vì vậy các giải pháp chưa mang tính trọng tâm và có những đặc trưng riêng cho đội ngũ nhân viên kinh doanh tại công ty. Luận án tiến sĩ của Phan Minh Đức (2018) khi nghiên cứu về động lực lao động tại các tập đoàn Nhà nước đã khang định vai trò quan trọng của chính sách thù lao tài chính đối với động lực lao động. Các nhóm giải pháp được tác giả xây dựng rất cụ thể, mang tính ứng dụng cao. Tuy nhiên, do quá tập trung vào thù lao tải chính mà nội dung của luận án chưa nghiên cứu đúng mức vai trò quan trong cua thù lao phi tài chính.
Trong khi đó, thù lao tài chính tại tập đoàn Nhà nước lại bị chi phối và quản lý bởi Nhà nước, việc thay đổi chính sách thù lao tài chính là không hề đơn giản như các công ty tư nhân. Ngoài ra, nội dung luận án đã xây dựng một số chỉ tiêu và sử dụng nó dé đánh giá hiệu quả tạo động lực thông qua chính sách thù lao lao động. Cụ thé, tác giả sử dụng mô hình Maslow dé đánh giá động lực làm việc của người lao động trong các Tập đoàn Nhà nước. Theo đó, thủ lao lao động sẽ ảnh hưởng lớn nhất đến nhu cầu sinh ly của người lao động.
Đào Thị Huyền (2018), đã nghiên cứu vấn đề tạo động lực tại Tập đoàn Viettel thông qua đánh giá chính sách tiền lương, tiền thưởng phúc lợi. Theo nhận định của tác giả, chính sách lương thưởng phúc lợi của Viettel đang được xây dựng khá tốt và ở mức độ cao hơn so với thị trường chung. Điều này giúp 8 người lao động cua Viettel có động lực làm việc tương đối cao. Tuy nhiên, cũng theo tác giả, trong quá trình thực hiện quá trình trả thù lao qua kết quả làm việc của Viettel, mặc dù quy chế được xây dựng rõ ràng chính xác nhưng những người chị trách nhiệm lại chưa thực sự làm đúng chức trách và nhiệm vụ của mình.
Điều này, dẫn đến việc đánh giá kết quả làm việc đôi khi chưa thực sự chính xác, gây ảnh hưởng đến hệ thống thù lao của Tập đoàn Viettel, từ đó, động lực làm việc cũng bị ảnh hưởng. Nhận định trên của tác giả cho thấy, hệ thống thù lao là van đề đặc biệt quan trọng trong tạo động lực lao động. Thù lao cao chưa chắc đã tạo ra động lực lao động. Thù lao cao cần phải đi với công băng, công khai minh bach.
Nguyễn Công Định (2020) đã nghiên cứu vấn đề tạo động lực lao động cho đội ngũ nhân viên bán hàng tại Công ty cô phần Paris Gâteaux Việt Nam. Bằng lý luận và số liệu thực tiễn, tác giả đã khẳng định vai trò quan trọng của đội ngũ nhân viên bán hàng, từ đó, nhắn mạnh tính cấp thiết của vấn đề tạo động lực cho nhóm đối tượng này. Nội dung luận văn cho thấy, muốn tạo động lực cần ứng dụng một cách khéo léo vấn đề về nhu cầu lao động và sự công bằng trong công việc. Hay nói cách khác, tác giả đã sử dụng hai học thuyết nổi tiếng về tạo động lực lao động là học thuyết nhu cầu và học thuyết công băng.
Tuy nhiên, luận văn đã nghiên cứu hai cách tạo động lực là tạo động lực qua thù lao tài chính và phi tài chính. Điều này khiến nội dung luận văn trở nên rất rộng và khó có thể phân tích sâu trong giới hạn của một luận văn. Pham Thi Hường (2021) đã nghiên cứu các nhân té tạo động lực lao động tại các công ty đa và xuyên quốc gia tại Việt Nam. Có thê thấy, nội dung nghiên cứu trên đã đảm bảo quy mô và tính chất của một luận án tiến sĩ.
Luận án đã khăng định sự khác biệt trong tạo động lực lao động ở các quốc gia đang phát triển và các nước phát triển. Kết luận này cho thấy, xét trong một tổ chức, sự khác biệt về điều kiện kinh tế có thé ảnh hưởng lớn đến cách thức tạo động lực lao động. Ngoài yếu tố thuộc về điều kinh tế, nội dung luận án đã lựa chọn các yếu tô dé phân tích và đánh giá động lực lao động gồm: Điều kiện làm việc, bản thân công việc, lương thưởng, đào tao thăng tiến, quan hệ với cấp trên, quan hệ 9 với đồng nghiệp, thương hiệu công ty, văn hóa công ty. Trong hệ thống các giải pháp của luận án, tác giả đã đề xuất và nhấn mạnh đến yếu tố tha lao tài chính.
Điều này đã khang định vai trò quan trọng của vấn dé thù lao tài chính đối với lao động tại các quốc gia đang phát triển. Điều này càng khang định thêm tinh câp thiệt của đề tài mà học viên đã lựa chọn. Các công trình nghiên cứu ngoài nước Wallace D.Boeve (2007) trong “A National Study of Job Satisfaction Factors Among Faculty in Physician Assistant Education Boeve” đã nghiên cứu các yếu tô tao động lực đến đội ngũ giảng viên thuộc ngành y tế tại Mỹ. Nhóm đối tượng này có đặc điểm là tầng lớp trí thức, và thu nhập cao trong xã hội.
Ngoài ra, đội ngũ nay làm công việc nghiên cứu về y khoa nên nhu cầu về hoàn thiện nâng cao kiến thức đối với họ là tương đối quan trọng. Đây là đặc điểm khác biệt so với khách thé nghiên cứu trong luận văn lần này: “đội ngũ nhân viên kinh doanh“. Tuy nhiên, việc nghiên cứu dựa trên học thuyết hai nhóm yêu tố của F.Herzberg cũng là một cách tiếp cận hay có thé được kết thừa. (2003) đã đánh giá khả năng áp dụng mô hình tạo động lực của Maslow trong đội ngũ nhân viên phụ trợ.
Nội dung bài viết một lần nữa khang định cần thỏa mãn nhu cau bậc thấp của các nhân viên phụ trợ trước khi xem xét tới các nhu cầu bậc cao. Nói cách khác, đối với đội ngũ nhân viên phụ trợ các tổ chức cần xem xét các van đề như anh mặc ngủ nghỉ hay nhu cau về an toàn trong công việc và cuộc sống. nội dung bài viết có thể coi là một định hướng quan trọng cho học viên trong vấn đề nghiên cứu và đề xuất các giải pháp về tạo động lực lao động trò nhóm đội ngũ nhân viên cấp thấp. Nghiên cứu của Teck-Hong và Waheed (2011) xem xét các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng đối với công việc của nhân viên trong ngành công nghiệp bán lẻ.
Tác giả đã khảo sát các nhân viên bán hàng tại các cửa hàng quần áo của phụ nữ trong một trung tâm mua săm ở Selangor. Kết quả cuộc điều tra cho thấy điều kiện làm việc là yếu tố quan trọng nhất trong việc thúc đây động 10 lực làm việc của nhân viên bán hàng. Yêu tô quan trọng thứ hai là sự công nhận và tiếp theo chính là chính sách của công ty và chế độ tiền lương. Xiao Song Lin, Zhen Xiong Chen (2018) trong bài viết trên Tạp chí kinh doanh và nghiên cứu đã phân tích động lực của nhân viên đối với sự mất an toàn trong công việc.
Phân tích trên cho thấy động lực của nhân viên đặc biệt là các nhân viên làm việc trong các công việc có tính dao thải lớn bị ảnh hưởng rat lớn bởi cảm giác an toàn của họ trong công việc và thu nhập. kết luận trên gợi mở cho các nhà nghiên cứu cách thức tạo động lực cho nhóm lao động này. Cụ thể, tổ chức cần xây dựng một hệ thống thù lao có tính 6n định ừ nhằm tạo điều kiện giúp các nhân viên có một cuộc sông ôn định và bên vững. James Robbins (2012), Nine minutes on Monday, NXB McGraw-Hill đã đưa ra chin nhu cau trọng tâm cần thỏa mãn của con người.
Đây là những nhu cầu từ cơ bản cho đến nhu cầu nâng cao. Từ những nhu cầu đó, tác giả đưa ra những câu hỏi về van dé cần làm như thế nào để thỏa mãn nhu cầu này.