CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NHÂN VIÊN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP. Ngày càng có thêm nhiều bằng chứng và nhận thức rõ hơn rằng Đào tạo. và giáo dục là những khoản đầu tư chiến lược chủ chốt cho sự phổn vinh của. Sự thành công vượt trội của Nhật bản, Hàn quốc, Xingapo.
là minh chứng hùng hồn cho thắng lợi của họ khi đầu tư vào giáo dục. Có thê nói rằng, sự cạnh tranh ngày nay giữa các quốc gia hay giữa các doanh nghiệp. thực chất là cạnh tranh về chất lượng của nhân viên. Mà chất lượng của nhân viên liên hệ chặt chẽ với quá trình giáo dục, đảo tạo và phát triển Việc phân tích ở mức độ cá nhân chỉ ra cá nhân nào cần phải được đào tạo và cần phải đào tạo những kiến thức kỹ năng nào.
Tuy nhiên, các tô chức ngày nay thay đổi nhanh chóng và những công việc ổn định cùng những yêu cầu về kỹ năng có thẻ dự kiến thường rất hiếm. “Những năng lực cốt lõi” hay việc tích lũy nhiều năng lực để có thể nâng cao khả năng linh hoạt và thích nghỉ với sự thay đổi thường là mối quan tâm của các tô chức ngày nay. Sự thay đổi , đặc biệt là sự thay đổi về công nghệ có thé lam thay đổi khuynh hướng đào tạo các kiến thức và kỹ năng cho nhân viên. Chăng hạn, ngày nay công nghệ có thể làm giảm bớt những yêu cầu về kỹ năng làm việc, chứ không phải nâng cao chúng.
Những máy tính có thể hiểu được tiếng nói hay đọc được văn bản đang làm thay đổi ý nghĩa của khả năng biết đọc và viết tại nơi làm việc. Và tất nhiên, tằm quan trọng của các kỹ năng khác như: tư duy. sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết các vấn đề. sẽ được đề cao.
Chính vì vậy, tác giả sẽ đề cập nội dung cơ sở lý luận về công tác đào tạo nhân viên kinh doanh của doanh nghiệp như sau: 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN Các khái niệm giáo dục, đào tạo, phát triển đều đề cập đến một quá trình tương tự: quá trình cho phép con người tiếp thu các kiến thức, học các kỹ năng mới và thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của các cá nhân. Điều đó cũng có nghĩa là giáo dục, đào tạo, phát triển được áp dụng đề làm thay đôi việc nhân viên biết gì, làm như thế nào, và quan điểm của họ đối với công việc, hoặc mối quan hệ với các đồng nghiệp và các “sếp”.Tuy nhiên, trong thực tế lại có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm giáo dục, đào tạo, phát triển và về sự tương đồng, hoặc khác biệt giữa đào tạo và phát triển. Theo Cherrington, giao duc mang tinh chất chung, cung cấp cho học viên các kiến thức chung có thê sử dụng vảo trong các lĩnh vực khác nhau, đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỳ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể, còn phát triển liên quan đến khả năng trí tuệ và cảm xúc cần thiết để thực hiện các công việc tốt hơn.
Carrel và cộng sự tán thành quan điểm cho rằng có hai loại đào tạo: đào tạo chung và đào tạo riêng. Đào tạo chung được áp dụng để nhân viên có được những kỹ năng có thể sử dụng ở mọi nơi. Đảo tạo riêng được áp dụng giúp cho nhân viên có được các thông tin và kỹ năng chuyên biệt, áp dụng cho công việc của mình tại nơi làm việc và quan điểm này cho rằng đảo tạo và phát triển có cách tiếp cận khác nhau 'Wayne không tán thành với quan điểm truyền thống, coi đào tạo được dành cho nhân viên cấp dưới, còn phát triển chỉ để cho nhân viên cấp cao và sự khác biệt cơ bản giữa đào tạo và phát triển thể hiện ở chỗ đào tạo chú trọng, vào các kỳ năng tay chân, còn phát triển chú trọng vào kỹ năng giao tiếp, ra quyết định. Theo Wayne “sự phân biệt này tỏ ra quá lu mờ và không có ích gì”.
Trong thực tế, trình độ lành nghề của người lao động ngày càng tăng, việc áp dụng trang bị, công nghệ, kỹ thuật hiện đại vào sản xuất kinh doanh làm cho sự phân biệt giữa lao động tay chân và lao động trí óc ngày càng giảm, thêm vào đó, việc thu hút nhân viên tham gia vào quản lý doanh nghiệp, vào các quá trình nâng cao chất lượng và việc áp dụng triết lý, quan điểm của quản trị nhân viên vào trong doanh nghiệp đã làm thay đổi vai trò của nhân viên trong doanh nghiệp, làm thay đôi tính chất thực hiện công việc. Theo tác giả, ủng hộ quan điểm Cenzo và Robbins, diém tương đồng giữa đào tạo và phát triển đều có các phương pháp tương tự, được sử dụng, nhằm tác động lên quá trình học tập để nâng cao các kiến thức, kỹ năng thực hành. Tuy nhiên, đảo tạo có định hướng vào hiện tại, chú trọng vào công việc hiện thời của cá nhân, giúp các cá nhân có ngay những kỹ năng cần thiết thực hiện tốt công việc hiện tại. Còn phát triển nhân viên nhằm chú trọng lên các công việc tương lai trong tô chức, doanh nghiệp.
Khi một người được thăng tiến lên những chức vụ mới, họ cần có những kiến thức, kỹ năng mới theo yêu cầu mới của công việc. Công tác phát triển nhân viên sẽ giúp các cá nhân chuẩn bị sẵn các kiến thức, kỹ năng cần thiết đó. Theo giáo trình Quản trị nhân lực, trường đại học Kinh tế quốc dân: Đào tạo (hay còn được gọi là đào tạo kỹ năng): được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập dé nâng cao trình độ kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động.
trl53] Như vậy các tài liệu đưa ra quan điểm đào tạo rằng: Đào tạo là những hoạt động học tập nhằm nâng cao hiệu quả cho công việc hiện tại của người lao động 10 giữa đảo tạo và phát triển nhân viên có sự khác nhau. Sự khác nhau đó được thể hiện trong bảng so sánh dưới đây: Bảng I. - So sánh giữa đào tạo và phát triển nhân viên Tiêu chí so sánh Đào tạo Phát triển 1.Tập trung Công việc hiện tại Công việc tương lai 2. Pham vi Cá nhân Cá nhân và tô chức 3.
Thời gian Ngắn hạn Dài hạn 4. Mục đích ‘aes he va kp bon Bien Chuan bi cho tuong lai tại (nguồn: Giáo trình Quản trị nguôn nhân lực, NXB Tong hop TP.TS Trần Kim Dung) Công tác đào tạo và phát triển nhân viên không phải đứng độc lập, riêng lẻ với các chức năng khác mà thực tế chúng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau trong chuỗi các hoạt động quản trị nguồn nhân lực. Cụ thể: Giữa công tác kế hoạch hóa và công tác đào tạo, phát triển nhân viên trong doanh nghiệp có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Kế hoạch hóa nhân viên giúp cho việc xác định nhu cầu cho công tác đào tạo và phát triển nhân viên trong doanh nghiệp.
Nhưng ngược lai, dio tạo và phát triển nhân viên lại là một giải pháp nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt nhân viên trong công tác kế hoạch hóa. Giữa đào tạo - phát triển và công tác tuyển dụng cũng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Đào tạo có thẻ làm giảm hoặc tăng nhu cầu tuyên dụng cho nhân viên có chất lượng cao và ngược lại, việc tuyên dụng cũng có thể làm tăng hoặc giảm nhu cầu đào tạo. Nhân viên sau khi tham gia các chương trình đào tạo họ được nâng cao trình độ kỳ năng hoặc có được những kiến thức và kỹ năng mới để sẵn sảng đảm nhận những công việc mới đòi hỏi trình độ và kỹ năng cao hơn.
Tuy nhiên, khả năng đóng góp của họ vào kết quả SXKD của doanh nghiệp vẫn chỉ là tiềm năng chưa được khai thác. Đề những chỉ phí bỏ ra cho đào tạo và phát triển nhân viên thực sự có ý nghĩa với hoạt động SXKD thì vấn đề sử dụng lao động nói chung và sử dụng sau đảo tạo nói riêng lại cực kỳ quan trọng đối với hiệu quả công tác đảo tạo nhân viên kinh doanh trong doanh nghiệp. Nếu không làm rõ được tình hình sử dụng lao động thì không thể đánh giá được hiệu quả công tác đào tạo nhân viên kinh doanh trong doanh nghiệp. Ngoài ra hiệu quả của công tác đào tạo nhân viên kinh doanh được thể hiện qua kết quả đánh giá thực hiện công việc của nhân viên sau khi được đảo.
Đánh giá thực hiện công việc là một vấn đề quan trọng không những giúp doanh nghiệp đánh giá được công tác đào tạo nhân viên kinh doanh họ đã thực hiện có hiệu quả hay không mà còn giúp doanh nghiệp xác định được một cách chính xác nhu cầu đảo tạo thực sự của doanh nghiệp.2 SỰ CÂN THIẾT PHẢI NÂNG CAO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO. VIÊN KINH DOANH Đào tạo nhân viên luôn đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của tổ chức, cá nhân và xã hội. Đối với doanh nghiệp, tổ chức Trước hết, một tỗ chức làm tốt công tác đào tạo không những tăng hiệu quả công việc, nâng cao hiệu quả lao động mà mà còn giúp cho nhân viên gắn bó với đơn vị hơn, tạo điều kiện để thu hút và giữ chân nhân tài. Hơn nữa, thông qua đào tạo, khả năng tự tiến hành công việc một cách độc lập và tự giác của nhân viên sẽ tăng, tổ chức sẽ giảm bớt được chỉ phí lao động cho việc giám sát quá trình làm việc của nhân viên.
Ngoài ra, nhờ có đào tạo, tổ chức sẽ duy trì và nâng cao được chất lượng nhân viên của mình, sẽ có đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn nghiệp vu cao. Điều đó sẽ giúp cho tổ chức nâng cao được tính ôn định và tính năng động trong các hoạt động của mình, đồng thời tạo điều kiện cho việc áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và quản lý vào trong các hoạt động của tô chức. Và cuối cùng, một vai trò không thể phủ nhận của đảo tạo đối với tổ chức là nhờ có đào tạo, tổ chức có thể tạo ra được đội ngũ nhân viên giỏi, duy trì được đội ngũ nhân viên đó và thu hút được nhân viên giỏi đến với tổ chức, nhờ đó có thể tạo lập và nâng cao lợi thế cạnh tranh.