Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm liên quan đến tạo động lực cho người lao động 1. Khái niệm động lực lao động Trong thời đại kinh tế hiện nay, NNL đóng vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp, đó là nhân tố quyết định sự thành bại trong kinh doanh của doanh nghiệp.
Vì vậy các nhà quản trị phải tìm hiểu về động lực của người lao động là gì? Từ đó tìm cách tạo động lực cho NLĐ trong quá trình làm việc để người lao động cống hiến làm việc hết mình cho công ty. Có nhiều khái niệm về động lực lao động, mỗi khái niệm đều có những điểm khác nhau, nhưng nhìn chung các khái niệm đều nói lên được bản chất của động lực lao động, điển hình là một số khái niệm sau: Theo Stee & Porter (1983), động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của NLĐ để tăng cường nỗ lực làm việc nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức; là sự thôi thúc, sự kiên định và bền bỉ trong quá trình làm việc [48]. Pinder (1998) đã chỉ rõ hơn và cho rằng động lực làm việc là một tập hợp của các yếu tố bên ngoài và bên trong dẫn tới các hành vi liên quan đến việc thiết lập, định hướng hình thức, thời gian và cường độ của hành động. Định nghĩa này xác định ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài (ví dụ, tính chất công việc, hệ thống khen thưởng của tổ chức) và các yếu tố bẩm sinh của một cá nhân (ví dụ, động cơ và nhu cầu của một người) đến các hành vi liên quan đến làm việc [47].
Theo Nguyễn Vân Điềm – Nguyễn Ngọc Quân (2012): “Động lực lao động là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [11; tr128]. Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2009): “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều 5 kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [35; tr85]. Suy cho cùng “Động lực lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ bản thân mỗi NLĐ mà ra, do vậy phải làm sao tạo ra động lực để NLĐ có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức”.
Theo Giáo trình Quản trị nhân lực, Khoa Kinh tế & Quản lý Nguồn nhân lực: Động lực là sự khát khao, tự nguyện của cá nhân nhằm tăng cường sự nỗ lực của cá nhân để đạt được mục tiêu hay kết quả nào đó [10]. Như vậy, động lực lao động trong một tổ chức thường có những đặc điểm chung sau: + Động lực lao động thường gắn liền với công việc, với tổ chức cũng như môi trường làm việc, được thể hiện ở trong chính thái độ của NLĐ đối với công việc và tổ chức. + Động lực trong lao động không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Có nghĩa là không có NLĐ có động lực và người lao động không có động lực.
Nó thường xuyên biến đổi và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Một cá nhân có thể có động lực lao động vào thời điểm này nhưng vào thời điểm khác chưa chắc đã có động lực lao động. + Động lực lao động sẽ dẫn tới tăng năng suất, hiệu quả trong công việc với điều kiện các nhân tố khác không thay đổi. Nó là nguồn gốc thúc đẩy người lao động làm việc nỗ lực, hăng say hơn.
Tuy nhiên, nếu cho rằng động lực lao động là yếu tố tất yếu dẫn đến tăng năng suất và hiệu quả công việc là một quan niệm sai lầm. Bởi vì, sự thực hiện công việc không phải chỉ phụ thuộc vào động lực lao động mà còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác như: khả năng, trình độ của NLĐ, các nguồn lực để thực hiện công việc… + Nếu không có động lực lao động thì NLĐ vẫn có thể hoàn thành công việc của mình. Tuy nhiên, nếu người lao động mất động lực hoặc suy giảm 6 động lực thì kết quả làm việc của họ sẽ không phản ánh đúng khả năng thực sự của họ và họ thường có xu hướng ra khỏi tổ chức. Khái niệm tạo động lực lao động Có nhiều khái niệm về tạo động lực lao động, mỗi khái niệm có một cách tiếp cận khác nhau nhưng đều làm rõ được bản chất của động lực lao động: Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2009): “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến NLĐ nhằm làm cho NLĐ có động lực trong công việc” [35; tr 87].
Theo Nguyễn Thành Độ và Nguyễn Ngọc Huyền (2011), "Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến NLĐ nhằm làm cho NLĐ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức" [12; tr 201]. Tạo động lực gắn liền với lợi ích hay nói cách khác là lợi ích tạo ra động lực trong lao động. Song trên thực tế, động lực được tạo ra ở cấp độ nào? Bằng phương pháp nào? điều đó phụ thuộc vào cơ chế cụ thể để sử dụng nó như là một nhân tố cho sự phát triển của xã hội. Muốn lợi ích tạo ra động lực phải tác động vào nó, kích thích nó làm gia tăng hoạt động có hiệu quả của lao động trong công việc, trong chuyên môn hoặc trong những chức năng cụ thể.
Mục đích quan trọng của tạo động lực cho NLĐ là khai thác, sử dụng có hiệu quả cao nhất, phát huy được những tiềm năng của NLĐ trong tổ chức. Khi NLĐ có động lực lao động thì họ sẽ làm việc nhiệt tình hăng hái, sử dụng hết khả năng của mình, nhờ đó mà những mục tiêu của tổ chức sẽ được thực hiện với hiệu quả cao. 7 Đồng thời, tạo động lực là sự gắn kết, thu hút những NLĐ giỏi về làm việc trong tổ chức. Bởi tạo động lực cho NLĐ chính là làm cho NLĐ được thỏa mãn khi làm việc cho tổ chức, khiến cho họ làm việc trung thành với tổ chức.
Sự gắn bó nhiệt tình của họ cùng với những biện pháp tạo động lực tốt sẽ làm tăng sức cuốn hút người giỏi đến với tổ chức và điều đó càng góp phần tăng khả năng thành công của tổ chức. Quá trình tạo động lực lao động diễn ra liên tục, đòi hỏi nhiều công sức, khá tốn kém, phải có sự nghiên cứu tỉ mỉ và cần có sự điều chỉnh và không phải lúc nào cũng phát huy tác dụng nên thường ít được quan tâm trong các tổ chức, đặc biệt là các cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, thực tế chứng minh rằng tạo động lực cho NLĐ là xu thế tất yếu buộc các tổ chức cần phải quan tâm bởi vì lợi ích to lớn mà quá trình đó đem lại nhằm tránh sự mệt mỏi về tinh thần, sự nhàm chán trong công việc. Các học thuyết về tạo động lực cho người lao động 1.
Học thuyết nhu cầu của Maslow Theo nhà tâm lý học người Mỹ, Abraham Maslow đã nghiên cứu về những mong muốn, nhu cầu của con người và đi đến kết luận: Nhu cầu của con người có những cấp độ khác nhau. Khi một nhu cầu được đáp ứng thì ngay lập tức, một nhu cầu khác ở cấp độ cao hơn sẽ xuất hiện. Theo Maslow, hệ thống nhu cầu của con người bao gồm 5 thứ bậc từ thấp đến cao: thấp nhất là nhu cầu sinh lý và cao nhất là nhu cầu tự hoàn thiện. Theo trật tự này, nhu cầu của con người được chia thành 5 bậc và theo trật tự như sau: 8 Nhu NC hoàn cầu thiện bậc cao Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu Nhu cầu an toàn cầu bâc thập Nhu cầu sinh lý Hình 1.
1 Hệ thống nhu cầu của Maslow (Nguồn: Maslow, A. (1943), “A theory of human motivation” [43]) + Nhu cầu sinh lý (vật chất): Là nhu cầu thấp nhất của con người, là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản thân cuộc sống con người như: ăn, mặc, ở, nước uống, thực phẩm, quần áo… Người lao động khi làm việc cần có tiền lương để nuôi sống bản thân và gia đình, cần có thời gian nghỉ giữa ca để nghỉ ngơi và vệ sinh cá nhân… Maslow quan niệm rằng khi những nhu cầu sinh lý chưa được đáp ứng tới một mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác không có tác dụng thúc đẩy con người. + Nhu cầu về an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể, tránh khỏi bệnh tật, sự đau đớn và đe dọa mất việc làm, mất tài sản. Họ muốn làm việc trong môi trường được trang bị đầy đủ thiết bị bảo hộ lao 9 động, được hưởng các phúc lợi y tế và BHXH một cách đầy đủ… và hơn thế nữa là một công việc ổn định, không bị sa thải một cách vô lý.
+ Nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận): Thể hiện ở mong muốn được quan hệ, được hợp tác cũng như trao đổi tình cảm đối với những người xung quanh. Bản chất con người là sống tập thể, hơn nữa họ không thể hoàn thành công việc nếu như thiếu sự giúp đỡ của đồng nghiệp, bạn bè… Người có nhu cầu xã hội cao sẽ thích làm công việc có sự tham gia của nhiều người, có nhiều hoạt động tập thể như: thể thao, văn nghệ, … + Nhu cầu được tôn trọng: Là mong muốn có địa vị, được mọi người tôn trọng, công nhận cũng như tự tôn trọng, tự hào bản thân. Những người có nhu cầu được tôn trọng cao sẽ muốn làm việc tại một môi trường có nhiều cơ hội thăng tiến, được trao nhiều phần thưởng giá trị cho thành tích của mình… Đặc biệt, những người này lại làm việc rất tích cực và luôn cố gắng học hỏi nâng cao trình độ. + Nhu cầu tự hoàn thiện: Con người luôn muốn tự hoàn thiện bản thân, phát triển toàn diện tất cả các mặt cũng như khai thác các khả năng tiềm ẩn của mình.
Họ muốn được làm các công việc đòi hỏi tính sáng tạo, thách thức, tinh thần tự giác và khả năng giải quyết vấn đề. Những người này thường có tài năng và họ luôn muốn tạo ra các thành tích mới, kỷ lục mới, mang lại nhiều lợi ích nhất cho tổ chức.