CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE ĐỘNG LUC VÀ TẠO ĐỘNG LUC 1. Một số khái niệm 1.1 Khai miệm động lực làm việc Theo Tran Xuân Cau & Mai Quốc Chánh (2008): “Động lực là những yếu tố bên trong thúc đây con người làm việc chăm chỉ trong điều kiện tạo ra năng suất hiệu quả cao. Động lực có quan hệ chặt chẽ với công việc tô chức. Cách hiéu khác, nó là ý chí muốn thực hiện 1 công việc gì đó, hoặc mong muốn và sự sẵn lòng của 1 cá nhân quyết tâm nỗ lực dé giành được một kết quả hoặc một mục tiêu cụ thể.” Có nhiều khía cạnh tác động đến ĐL,chúng hay đôi thay,khó năm bắt không dé dé hiểu.Một số khía cạnh hay còn gọi là yêu tô đó là: các yếu tố từ chính NLD ( các nhu cầu, mục đích,lợi ích bản thân, nhận biết của NLD ); khía cạnh đặc thù công việc( đặc thù,tổ chức công việc, .) ; khía cạnh bản thân người lao động ( văn hóa CTY,chinh sách nhân sự,các quy dinh.
Những khía cạnh này rất nhiều loại và rắc rối yêu cầu khả năng phối hợp một cách tối ưu chúng dé phát huy năng lực của tô chức, vừa hài lòng mục đích của bản thân các thành viên, vừa hoàn thành mục tiêu công ty. Khái niệm tạo động lực làm việc tai công ty Theo Tran Kim Dung (2000): “Tạo động lực cho người lao động là kích thích người lao động làm việc một cách tự giác, tích cực nhiệt tinh băng những biện pháp nhất định và làm việc đạt hiệu suất công việc cao nhất. Ưu đãi cũng chính là tạo ra sự hấp dẫn của công việc, kết quả công việc,của tiền thưởng,lương. hướng hành vi của người lao động vào một quỹ dao nhất định.
Theo cách diễn đạt khác, đây là những chính sách và biện pháp gây anh hưởng đến con người dé tạo động lực cho họ trong công việc.” Mục đích quan trọng nhất của khuyến khích lao động là phát triển tận dụng và nâng cao tiêm năng của người lao động một cách hiệu quả nhất trọng tô chức.Khi nhân viên được động viên,họ sẽ làm việc hăng say và phát huy hết khả năng của mình dé đạt được mục tiêu của t6 chức một cách hiệu quả.Do có động cơ khuyến khích lao động,người lao động có thé phát huy hết khả năng. Mục đích tiếp theo của TDL: xây dựng sự gắn kết, lôi kéo những nhân viên xuất sắc nhất đến với tô chức. Khiến người lao động được hài lòng khi làm việc, dé NLD trung thành va ở lại lâu dài với tổ chức. Sự cam kết nhiệt tình của họ,kết hợp các cách khuyến khích tốt chắc chắn càng cuốn hút các tài năng hang đầu đến với tổ chức,làm cho tô chức ngày càng thành công hơn.
Tạo động lực có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng: Đối với bản thân nhân viên: Động viên họ trở nên xuất sắc ,có ý nghĩa trong công việc và cho tô chức. Với doanh nghiệp-tô chức: Luôn bên cạnh động viên,giúp đỡ,phát triển đội ngũ lao động của mình rất có ý nghĩa trọng việc giữ chân nguồn nhân lực của tô chức và đặc biệt là giữ chân nhân tài Đối với xã hội: Tạo động lực đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người, bảo đảm hạnh phúc và toan diện phát triển thúc day nền kinh tế quốc dân phát triển,xã hội đi lên. Một số học thuyết về tạo động lực 1.Học thuyết nhu cầu của Maslow Một trong những lý thuyết phô biến nhất về động lực là hệ thống phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow. Maslow tin : con người muốn một số nhu cầu nhất định được đáp ứng và xem những nhu cau này theo thứ bac,theo thứ tự tăng dan từ thấp nhất đến cao nhất.Ông chia chúng qua năm cấp độ: nhu cau sinh lý,nhu cầu an toàn,nhu cầu được thuộc về hoặc nhu cầu được chấp nhận, nhu cầu được tôn trọng và kết thúc là nhu cầu tự hàn thiện: -Nhu câu sinh hoc: Dé duy trì cuộc sông con người chỉ cân những nhu câu cơ bản như: thức ăn, nước uông, quân áo mặc,chồ ở.
-Nhu câu an ninh: Bao gôm các nhu câu về an toàn và bảo vệ khỏi thương tích cá nhân cũng như các mối đe dọa như thiệt hại tài sản, thất nghiệp. -Nhu cầu xã hội: Bao gồm tinh yêu,sự thuộc vỀ,sự chấp nhận và tình bạn. -Nhu câu tôn trọng: nhân mạnh tới sự thoả mãn vê quyên lực, uy tín, dia vi. -Nhu cầu tự hàn thện: Maslow coi đây là nhu cầu cao nhất trong hệ thông cấp bậc ông tạo ra,có được vi tri mong muốn,phát huy tối đa tiềm năng củ mình va hoàn thành một mục tiêu nhất định.
Nghiên cứu cũng chỉ ra răng hệ thong phân cap nhu câu là khác nhau ở các quốc gia khác nhau, vì điều này cũng phụ thuộc vào văn hoá. Mỗi người đều có những nhu câu và mức độ nhu câu rât khác nhau nên động cơ hành động của họ cũng khác nhau. Mức độ thoả mãn nhu câu cảng cao thì cảng tao ra động lực cho người lao động, họ càng hăng say làm việc. Vì vậy nhà quản lý cần quan tâm thỏa mãn một phần nhu cầu của NLD sẽ giúp mang lại lợi ích cho tổ chức.
Học thuyết hai nhóm yễu tô của Herzbeg Theo Hoàng Văn Hải- Vũ Thùy Duong (2010) ,hoc thuyết này dựa trên cơ sở quan điểm tạo động lực là hệquả của sự tác động đa dạng yếu tố. Trong đó có các yếu tố tạo nên sự không thoả mãn và thoả mãn. Theo Herzberg,2 nhóm được lập ra dé chia các yếu tô đó Nhóm 1: Các yếu tố môi trường - Các chính sách và chế độ quản lý của Công ty. - Sự hướng dẫn trong công việc.
- Những mối quan hệ giữa các cá nhân. - Các điều kiện làm việc. Nhóm 2: Các yếu tố tao động lực - Sự thành đạt. - Sự thừa nhận thành tích.
- Bản chất bên trong của công việc. - Trách nhiệm, chức năng lao động. - Sự thăng tiến. Theo ông, các nhân tô thuộc nhóm thứ nhất không phải là nhân tố thúc day mà chỉ là những nhân tố điều kiện.
Đưa họ vào một môi trường làm việc với chất lượng cao thì không mang lại sự hài lòng, nhưng có tác dụng mang lại sự thoả mãn. Nhưng sẽ có sự bât mãn nêu chúng không tôn tại. Trong nhóm hai, ông ấy liệt kê những gì ông ấy coi là yếu thé thúc đây trong công việc. Sự hiện diện của chúng dân đên cảm giác hài lòng hoặc không hài lòng.
Chúng ta có thể thấy, nếu lý thuyết này có cơ sở thì các nhà quản lý cần rất lưu tâm tới người lao động trong việc nâng cao sự thỏa mãn của họ. Nhiều người lao động không muốn chỉ đc động viên về mặt vật chất mà muốn được động viên tinh thần để co độg lựk lam việk và cốg hến. Do theo lý thuyết này,muốn cải thiện hiệu quả làm việc của nhân viên thì nên tạo cho họ nhiều tính thách thức,có trách nhiệm cao ,nhiêu cơ hội thăng tiên qua những công việc có tính này .Tăng phúc lợi và tiền lương là chưa đủ,nên khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động. Lý thuyết này xác định một loạt các yêu tố ảnh hưởng động lực và sự hài lòng của nhân viên, và có tác động cơ bản tới việc thiết kế và thiết kế lại công việc ở nhiều công ty.
Tuy nhiên trên thực tế đối với một số người lao động cụ thé, các yếu tô này xảy ra đồng thời chứ không riêng lẻ trong khi yếu tố bảo trì kém van tác động dé người lao động,mức độ hai lòng của ho. Do thế,nhà quan lý phải kết hợp đồng thời cả hai nhóm yếu tố này để quản lý và động viên nhân viên, đồng thời phải nhận thức được tầm quan trọng của việc thiết kế các vị trí quản lý phù hợp. Nội dung cơ bản của tạo động lực làm việc trong doanh nghiệp 1. Xác định mục tiêu tạo động lực làm việc Moi tô chức, công ty đều có cho mình những lý do,muc đích hoạt động rieng.
Và nếu nhân viên không thê hiéu ,họ sẽ không hiểu công việc đó dé làm gi,sé đóng góp ntn cho tổ chức. Ngược lại khi đã hiểu rõ thì họ sẽ đóng góp tích cực vào việc đạt được mục tiêu mà tô chức dé ra. Do đó,NQL, cần phải làm sáng tỏ nhiệm vụ kinh doanh sản xuất của tổ chức,song song với đó phải có cách giúp NLD hiểu rõ mục tiêu kinh doanh của tô chức mình. Chỉ bằng cách này, họ mới cảm nhận được tầm quan trọng của họ trong doanh nghiệp, khiến họ làm việc chăm chỉ hơn.
Xác định nhu cầu của nhân viên Mỗi nhân viên ở mỗi cấp bậc đều có cho mình những nhu cầu riêng không giông nhau,có nhiêu cách đê hiêu họ như phỏng vân,phát phiêu khảo sát. Tuy nhiên cũng có những nhu câu thâm kín mà nhân viên không muôn nói ra đòi hỏi nhà quản lý phải có con mắt quan sát thật tinh tê mới có thé hiểu được. Hiểu được nhu cầu của nhân viên cũng góp phan giúp nhà quản lý có những công cụ biện pháp tạo động phù hợp với từng đối tượng,chức danh trong công ty.Có những đối tượng cần nhất là thu nhập thỏa đáng,nhưng sô khác lại quan tâm đến phúc lợi sau này hay được tham gia các hoạt động văn hóa,văn nghệ. Biện pháp tạo động lực thông qua công cụ kinh tế a.Công cụ kinh tế trực tiếp: Tiền lương: Theo Mác: “Tiền lương là giá cả sức lao động khi sức lao động trở thành hàng hoá.
Người lao động bán sức lao động của mình cho người sử dụng lao động nhận được một khoản thanh toán gọi là thu nhập. Phần thu nhập này cung cấp cho NLĐ để tái sản xuất sức lao động và thoả mãn các nhu câu khác.” Theo Nguyễn Vân Diém & Nguyễn Ngọc Quân (2007): “Van đề muôn thuở của nhân loại,một trong những vấn đề đau đầu của phần lớn doanh nghiệp tại VN. Ở các công ty của nước ta thì tiền lương là thành phần chính ảnh hưởng đến sự nhiệt tình của nhân viên” Vi thế dé NLD được nó tao động lực phải dam bảo ba nguyên tac: - Chế độ đãi ngộ công băng: Nghia là chế độ đãi ngộ phải tương xứng đáng với công sức của người lao động. Không những đãi ngộ công bằng thể hiện ở sự so sánh giữa mọi người trên thị trường và trong tô chức.
- Tiền lương phải đảm bảo tái sản xuất va phát triển sức lao động,tức là nó phải đảm bảo cho người lao động và gia đình họ có mức sống ít nhất băng mức trung bình của xã hội, đông thời đáp ứng các nhu câu cơ bản.