CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC TẠI UBND THÀNH PHỐ 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực cho cán bộ, công chức, viên chức 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhu cầu, động cơ * Khái niệm nhu cầu Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thoải mái về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng nó.
Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại, phát triển của con người, cộng đồng và tập thể xã hội. Nhu cầu có hai dạng cơ bản là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. - Nhu cầu vật chất: Là các nhu cầu về thức ăn, nước uống, đảm bảo cho người lao động có thể sống được, thỏa mãn được nhu cầu tối thiểu cùng với sự phát triển của xã hội. - Nhu cầu tinh thần: Là các nhu cầu bậc cao hơn, người lao động cũng rất phong phú, nó đòi hỏi những điều kiện để con người tồn tại và phát triển về mặt trí lực nhằm tạo ra tâm lý thoải mãi.
Cả 2 yếu tố vật chất và tinh thần cùng lúc tồn tại trong bản thân người lao động nó không phải chỉ có một yêu cầu vật chất hay tinh thần mà nó có nhiều đòi hỏi khác nhau. * Khái niệm động cơ: Theo thuyết hành vi: Với mô hình “kích thích - phản ứng”, coi kích thích là nguồn gốc tạo ra phản ứng hay gọi là động cơ. Rubinstein (1980) cho rằng: “Động cơ của con người được tạo ra từ những nhu cầu, hứng thú được hình thành ở con người trong quá trình sống”. Leonchiev (2003), Động cơ chính là đối tượng có khả năng đáp ứng nhu cầu đã được chủ thể tri giác, biểu tượng tư duy… đó là sự phản ánh chủ quan về đối tượng thoả mãn nhu cầu.
Nhưng không phải nhu cầu nào LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cũng trở thành động cơ hoạt động. Chỉ khi nhu cầu “gặp” được đối tượng có khả năng thoả mãn thì khi đó nhu cầu mới trở thành động cơ hoạt động.[2] Theo thuyết tâm lý hoạt động: Những đối tượng nào được phản ánh vào óc ta mà có tác dụng thúc đẩy hoạt động, xác định phương hướng hoạt động để thỏa mãn nhu cầu nhất định thì được gọi là động cơ hoạt động. Động cơ theo nghĩa rộng nhất được hiểu là cái thúc đẩy con người hoạt động làm thỏa mãn nhu cầu, là cái làm nảy sinh tính tích cực và xu hướng của tính tích cực đó. Động cơ là nguyên nhân trực tiếp của hành vi.
Theo từ điển Tiếng Việt, động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy con người ta suy nghĩ và hành động. Có thể nói động cơ chính là bản chất của hành động, nó quy định hoạt động của con người. Và động cơ chính là sự thúc đẩy suy nghĩ, mong muốn trong đầu con người ra bên ngoài hành động. Nói khác đi, khi nhu cầu gặp đối tượng có khả năng thỏa mãn thì trở thành động cơ.
Động cơ là sự biểu hiện chủ quan có nhu cầu. * Mối quan hệ giữa nhu cầu và động cơ Để xác định mối quan hệ giữa động cơ với nhu cầu, ta xem xét mô hình sau về mối quan hệ: Nhu cầu – Động cơ – Hành động – Kết quả Động cơ Hành động Kết quả Động lực Nhu cầu Thoả mãn Hình 1. Mối quan hệ giữa động cơ với nhu cầu (Nguồn: Nguyễn Vân Điềm – Nguyễn Ngọc Quân 2007) Như vậy, mô hình này đề cập đến nguyên nhân, kết quả và quá trình dẫn đến kết quả của việc tạo động lực cho người lao động. Mô hình chỉ ra rằng: Hệ thống nhu cầu chính là cơ sở quan trọng tạo nên động cơ và động lực của con người.
Động lực được hình thành sẽ biến thành hành động cụ thể và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 điều này sẽ đem lại kết quả tất yếu. Tất cả quá trình này từ lúc xuất phát là nhu cầu của chính con người cho đến khi đạt được kết quả mong đợi, suy cho cùng cũng là để thỏa mãn nhu cầu của chính họ. Động lực làm việc Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về động lực làm việc với các quan điểm khác nhau của các tác giả, nhưng có những điểm chung cơ bản. Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Văn Điềm (2011), “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức.
Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và môi trường đơn vị sống và làm việc của con người một mục tiêu, kết quả nào đó”[12]. Theo tác giả, động lực lao động xuất phát từ bản thân người lao động, nó thôi thúc người lao đông nỗ lực làm việc hơn nữa để đạt tới mục tiêu đã đề ra. Trong cuốn sách Multlines (1999), Mitchell cho rằng: Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình.[10] Theo Marier và Lauler (1973) đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Khao khát x Tự nguyện Như vậy, động lực có tác động rất lớn đến kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân. Kết quả thực hiện công việc được xem như một hàm số của năng lực và động lực làm việc.
Năng lực làm việc phụ thuộc vào các yếu tố như giáo dục, kinh nghiệm, kỹ năng được huấn luyện. Động lực làm việc có thể nhanh chóng được cải thiện hơn và cần được thường xuyên duy trì so với năng lực làm việc.S (2001) lại quan điểm về động lực làm việc như sau “Động lực được hiểu là sự tự nguyện nỗ lực ở mức độ cao nhằm hướng tới những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 mục tiêu của tổ chức, được tạo điều kiện bởi khả năng của những nỗ lực đó để thỏa mãn một số nhu cầu cá nhân” [12] Theo Bùi Anh Tuấn (2013), Giáo trình hành vi tổ chức, “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao”. Tác giả đề cập tới những nhân tố bên trong con người, đó chính là sự say mê, nỗ lực làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như mục tiêu của bản thân người lao động. Những nhân tố này kích thích người lao động làm việc tốt hơn, giúp tăng năng suất, nâng cao hiệu quả của quá trình làm việc.
Từ những định nghĩa trên ta có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực như sau: Động lực là tất cả những gì thôi thúc, khuyến khích, động viên người lao động tự nguyện thực hiện những hành vi nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Cán bộ Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, khái niệm “cán bộ, công chức” được gọi chung là “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước”. Khái niệm này được gọi chung cho tất cả những người làm việc cho Nhà nước, không có sự phân biệt rõ ràng. Đội ngũ này được hình thành từ nhiều con đường, có thể do bầu cử, có thể do phân công sau khi tốt nghiệp các đơn vị chuyên nghiệp, có thể do tuyển dụng, bổ nhiệm… Các khái niệm trên lần lượt được Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức của Nhà nước ta bước đầu phân biệt rõ ràng.
Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008. Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008, điều 4, khoản 1: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. [19] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Công chức, viên chức Mỗi quốc gia đều có khái niệm và định nghĩa khác nhau về Cán bộ công chức, viên chức bởi nó phụ thuộc vào quan niệm về hoạt động công vụ, chế độ chính trị và nền văn hóa của mỗi quốc gia, thậm chí ngay trong mỗi quốc gia.
Tại Nhật Bản, công chức bao gồm công chức địa phương và công chức nhà nước. Công chức địa phương là nhân viên làm việc trong các cơ quan tại địa phương và được hưởng lương từ ngân sách địa phương. Công chức nhà nước là những nhân viên giữ những chức vụ được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, họ thường làm việc tại Quốc hội, các cơ quan Trung ương, quân đội, bệnh viện quốc lập, đơn vị. Công chức nhà nước được chia thành 2 loại: công chức chung và công chức đặc biệt.
Công chức đặc biệt là được bổ nhiệm không qua thi cử, theo quy định của pháp luật. Công chức đặc biệt có 18 loại gồm nhóm Thủ tướng nội các, quốc vụ đại thần (tương đương Bộ trưởng), còn lại đều thuộc loại công chức chung. Tại Cộng hòa Pháp, những người được tuyển dụng vào làm việc tại các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức và các cơ quan hành chính công quyền từ Trung ương đến địa phương đều được gọi là công chức. Tại Việt Nam, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII ngày 13 tháng 11 năm 2008 đã thông qua Luật Cán bộ, công chức.
Khái niệm cán bộ, công chức được quy định tại khoản 1 Điều 4 của Luật như sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.” [19] Với khái niệm trên, ta có thể hiểu cán bộ bao gồm cán bộ trong cơ quan của Nhà nước, của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến địa phương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.