Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI 1. Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 1. Tăng trưởng kinh tế, Phát triển kinh tế và Phát triển bền vững 1. Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, liên quan đến sự thịnh suy của một quốc gia.
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang suy giảm mạnh như hiện nay thì tăng trưởng kinh tế dường như đã và đang trở thành một lối sống. Chính phủ nước nào cũng ưu tiên các nguồn lực của mình cho tăng trưởng kinh tế, coi đó là cái gốc, là nền tảng để giải quyết mọi vấn đề khác, đặc biệt là các vấn đề xã hội như: tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống của người dân, tăng cường phúc lợi xã hội, xóa đói - giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội… Tăng trưởng kinh tế thực sự là cần thiết. Khái niệm Tăng trưởng kinh tế được nhiều tác giả đề cập với nhiều cách khác nhau, song hầu hết các tác giả đều thống nhất ở định nghĩa chung nhất về tăng trưởng kinh tế như sau: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập thực tế hay sự gia tăng về qui mô sản lượng của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)”. Như vậy, Tăng trưởng kinh tế là khái niệm chỉ diễn tả động thái biến đổi về số lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của toàn bộ nền kinh tế theo thời gian, nhưng chưa đề cập đến mối quan hệ của nó với xã hội.
Phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế là cần thiết nhưng chưa đủ để làm cho phúc lợi được phân phối rộng rãi. Sự phát triển của một quốc gia không chỉ là sự gia LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tăng về qui mô sản lượng của nền kinh tế mà còn hướng đến nhiều mục tiêu kinh tế và xã hội rộng rãi hơn. Do vậy, khái niệm Phát triển kinh tế đã được đặt ra và nhận thức về nó ngày càng được hoàn thiện. Trước hết, phát triển cần phải được hiểu như một quá trình nhiều mặt liên quan đến việc tái tổ chức và tái định hướng toàn bộ các hệ thống kinh tế và xã hội [22; tr.
Vì vậy, phát triển kinh tế là một nhận thức toàn diện bao gồm các khía cạnh tinh thần và vật chất. Trong khi tăng trưởng kinh tế chỉ thuần tuý là sự gia tăng vật chất thì phát triển kinh tế là sự hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Phát triển kinh tế thể hiện trên ba khía cạnh bao gồm tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội. Có thể nói một cách khái quát: “phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến của nền kinh tế trên các mặt, bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng, tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội.
Đó là sự tiến bộ, thịnh vượng và cuộc sống tốt đẹp hơn” [18; tr. Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau.Tăng trưởng chưa phải là phát triển nhưng không thể nói phát triển mà không có tăng trưởng. Tăng trưởng mà không phát triển sẽ dẫn đến thảm họa, ngược lại phát triển mà không tăng trưởng là không tồn tại trong thực tế [27; tr. Phát triển bền vững Mặc dù khái niệm phát triển kinh tế đã đáp ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn diện trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, nhưng thực tiễn quá trình tăng trưởng kinh tế ở các nước buộc con người phải nhìn nhận lại mục tiêu của sự phát triển.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Trong những năm gần đây, nhiều vấn đề toàn cầu cực kỳ phức tạp, nan giải và ngày càng trầm trọng đòi hỏi cả cộng đồng nhân loại phải chung sức giải quyết như: vấn đề sinh thái, ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, tắc nghẽn giao thông, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố…. Stiglitz - nhà kinh tế học nhận giải Nobel năm 2001 - cũng đã bày tỏ lo ngại rằng: “kể cả những nước có được một chút tăng trưởng cũng thấy rõ là lợi ích chủ yếu tích tụ trong tay những người giàu và đặc biệt là tầng lớp cực giàu, khoảng 10% giàu nhất, trong khi nghèo đói vẫn hoành hành và thậm chí trong một số trường hợp, thu nhập của những người dưới đáy còn tụt giảm”[16; tr. Vì vậy, một khái niệm mới về phát triển đã ra đời, mang nội hàm phản ánh tổng hợp hơn, toàn diện hơn tất cả các khái niệm về tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế…, đó là khái niệm phát triển bền vững. Năm 1987, Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED: World Commission on Environment and Development) đã công bố báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, trong đó phát triển bền vững được định nghĩa “là sự phát triển thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai” [44].
Cụ thể hơn, phát triển bền vững được hiểu là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm có: (1) phát triển kinh tế (nền tảng là tăng trưởng kinh tế) , (2) phát triển xã hội (mục tiêu là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và (3) bảo vệ môi trường (mục tiêu là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Phát triển bền vững có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển. Phát triển bền vững là sự phát triển những giá trị của con người, trong khi tăng trưởng kinh tế chỉ là yếu tố biểu thị năng lực thỏa mãn nhu cầu của con người, nhưng không phải là tất cả. Sự phát triển những giá trị của con người cần đặt trong khuôn khổ phát triển bền vững, trong đó, việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội giữ vai trò quan trọng.
Do vậy, vấn đề tăng trưởng - công bằng đã được đặt ra: làm thế nào kinh tế không những tăng trưởng mà công bằng xã hội cũng được thực hiện?. Bất bình đẳng xã hội và Công bằng xã hội 1. Bất bình đẳng xã hội Nhằm hướng đến sự phát triển bền vững, việc khắc phục tình trạng bất bình đẳng xã hội đã trở thành vấn đề cốt lõi của mọi quốc gia. Trong hầu hết các xã hội, chúng ta luôn chứng kiến những hiện tượng bất bình đẳng.
“Bất bình đẳng xã hội được hiểu là giữa các cá nhân không có sự ngang bằng nhau” [48; tr. Tình trạng bất bình đẳng xã hội diễn ra trên nhiều khía cạnh như: khía cạnh thu nhập hay tiêu thụ, khía cạnh địa lý, khía cạnh giới tính, sức khỏe, năng lực, uy thế xã hội, dân tộc…Trong đó, bất bình đẳng về phương diện kinh tế có ảnh hưởng lớn lao đến sự ổn định xã hội và sự tồn tại của cả một cơ cấu xã hội hay một thể chế chính trị, mà biểu hiện rõ nét nhất là bất bình đẳng về phân phối thu nhập, nghĩa là thành quả của tăng trưởng kinh tế không được san sẻ đồng đều cho mọi tầng lớp dân chúng. Phân phối thu nhập càng bị sai lệch nhiều thì mức độ bất bình đẳng xã hội càng cao. Vì vậy, xu hướng gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập là một thách thức lớn của các quốc gia hiện nay, mà nguyên nhân chủ yếu của xu hướng này chính là vấn đề công bằng xã hội.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Công bằng xã hội Công bằng xã hội và bình đẳng xã hội là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Trong công bằng xã hội có thể có bình đẳng (là sự ngang bằng, bằng nhau), và có thể có bất bình đẳng. Chẳng hạn, trước pháp luật, mọi công dân đều bình đẳng, không phân biệt đối xử (về chủng tộc, giới tính, văn hóa, tôn giáo hay tín ngưỡng.); sự bình đẳng trong trường hợp này là một yêu cầu của công bằng xã hội.
Ngược lại, trên phương diện kinh tế, sự thụ hưởng của mỗi cá nhân không thể bằng nhau (dựa trên nguyên tắc làm nhiều-hưởng nhiều; làm ít-hưởng ít; không làm-không hưởng; hoặc gây thiệt hại-phải bồi thường); sự chênh lệch hay bất bình đẳng trong trường hợp này được pháp luật thừa nhận, xã hội đồng thuận và cũng là một yêu cầu của công bằng xã hội. Công bằng xã hội được xem xét trên nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đạo đức…Công bằng xã hội không phải là vấn đề cá nhân, mà là mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội (giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể, với cộng đồng xã hội, giữa công dân với nhà nước, giữa các nhóm xã hội…). Khái niệm về công bằng xã hội, vì vậy, có nhiều ý kiến khác nhau tuỳ thuộc vào quan điểm của mỗi xã hội nên mang tính chủ quan, tương đối và đa diện. Có thể nêu ra một vài quan niệm khác nhau về công bằng xã hội sau đây: - Khi đề cập đến nguyên tắc công bằng trong phân phối dưới chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng, hợp lý: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng.
Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”[ 23; tr. 181] và nhắc nhở: “Trong công tác lưu thông phân phối, có hai điều quan trọng phải luôn luôn nhớ: Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”[ 24; tr. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 - Theo tác giả Trần Văn Thọ, “Công bằng trước hết phải được hiểu là sự bình đẳng trong cơ hội, cơ hội làm việc, cơ hội đầu tư; nghĩa là bình đẳng trong việc tiếp cận những cơ hội mà với cố gắng và năng lực con người có thể đạt đến một mức sống cao hơn hiện nay”[33; tr.