CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG KINH TẾ VÙNG 1. Công trình nghiên cứu quốc tế 1. Công trình nghiên cứu về mô hình tăng trưởng kinh tế Tác phẩm “Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations” (Sự thịnh vượng của các quốc gia) của Adam Smith (1776) đánh dấu sự khởi đầu của tư tưởng kinh tế hiện đại. Tác phẩm này cũng phản ánh rõ tầm quan trọng của tăng trưởng kinh tế như một phương tiện cải thiện sự sinh tồn của con người.
Quan điểm này cho rằng một xã hội lý tưởng là một xã hội nơi mà mọi người có thể tự do cạnh tranh, giao lưu, tự do trao đổi hàng hóa mà không chịu sự ràng buộc của bất kỳ chủ thể nào khác. Ông cũng cho rằng xã hội là tổng hợp của các cá nhân – con người kinh tế, là liên minh của những quan hệ trao đổi. Ngoài ra, ông cũng cho rằng mọi hoạt động trao đổi của cá nhân đều chịu sự chi phối của tính ích kỷ và lợi ích cá nhân của mình. Tuy nhiên, do sự tác động của “Bàn tay vô hình”4 sẽ buộc con người kinh tế phải bảo vệ lợi ích chung của xã hội nếu muốn bảo vệ lợi ích của bản thân, bất kể điều này vốn không nằm trong dự định [114].
Cũng trong tác phẩm này, Adam Smith đồng thời trình bày về thuyết “Tích lũy tư bản”. Ông lập luận rằng cội nguồn của của cải lao động, tài sản của xã hội phụ thuộc vào 2 nhân tố: Số lượng lao động trong hoạt động sản xuất vật chất; sự phát triển của hoạt động phân công lao động để tăng năng suất sản xuất. Theo ông, việc phân công lao động đem lại nhiều ưu điểm: trình độ tay nghề và kỹ thuật của người lao động tăng lên; tiết kiệm thời gian chuyển đổi lao động từ dạng này sang dạng khác; và tạo điều kiện cho sự ra đời của các phương pháp sản xuất mới và việc sử dụng máy móc trong quá trình sản xuất. Mặc dù bị nhận định là có những sai lầm nhất định như đã lầm lẫn giữa phân công lao động trong xã hội và phân công lao động trong công trường thủ công và sai lầm trong quan điểm cho rằng khuynh hướng cá 4 “Bàn tay vô hình” được hiểu là sự hoạt động của các quy luật kinh tế khách quan, không chịu sự tác động của ý chí con người 6 nhân và trao đổi là nguyên nhân của sự xuất hiện và phát triển của phân công lao động, nhưng không thể phù nhận tầm quan trọng của thuyết “Tích lũy tư bản” trong việc định hình khuynh hướng nghiên cứu kinh tế học mới, xem lao động là một nhân tố quan trọng dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế, và xứng đáng là thuyết thống trị trong suốt giai đoạn từ thế kỷ 18 đến thập kỷ 50 của thế kỷ 20.
Thuyết “Tích lũy tư bản” của Adam Smith sau đó được kế thừa và phát triển bởi nhà kinh tế học David Ricardo (1817) với tác phẩm tiêu biểu “On the Principles of Political Economy and Taxation” (Những nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khóa). Trong tác phẩm này, ông đã rà soát lại toàn bộ học thuyết của Adam Smith để phê phán những mâu thuẫn và sai lầm cũng như phát triển thêm những nguyên lý đúng đắn trong lý luận của Adam Smith. Ông cho rằng tích lũy tư bản là nhân tố chủ yếu quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế và chỉ ra các yếu tố cơ bản cho sự tăng trưởng kinh tế là đất đai, vốn và lao động. Mối tương quan giữa các yếu tố này và các biện pháp thúc đẩy năng suất cận biên sẽ làm tăng lợi nhuận và tài sản cá nhân, từ đó tăng tỷ lệ hình thành tư bản và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế [103].
Cuối thế kỷ 19 đầu 20 chứng kiến sự xuất hiện của tư tưởng kinh tế tân cổ điển tiếp tục nghiên cứu và giải thích nguồn gốc và mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên các học thuyết của Adam Smith và David Ricardo. Theo các nhà kinh tế học thuộc trường phái này thì nền kinh tế để tăng trưởng phải dựa trên việc tăng số lượng của các yếu tố sản xuất đầu vào, bao gồm vốn, lao động và các nguyên vật liệu, cũng như cải thiện sự hiệu quả trong việc sử dụng các yếu tố đầu vào. Lý thuyết tăng trưởng của trường phái tân cổ điển dựa trên cơ sở một hàm sản xuất tổng hợp có dạng tổng quát: Y = f(K,L,N,t,…) Với Y là tổng sản phẩm xã hội, K là khối lượng vốn được sử dụng, L là số lượng lao động, N là đất đai và t là thời gian cùng với sự tham gia của nhiều nhân tố khác vào quá trình sản xuất. Như vậy, nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế vẫn còn mơ hồ và đòi hỏi giả định nghiêm ngặt về mô hình sản xuất ở cấp độ từng lĩnh vực của nền kinh tế.
Sự phức tạp 7 này sau đó được nhà toán học Cobb và nhà kinh tế học Douglas (1928) đơn giản hóa bằng cách cố định các yếu tố sản xuất khác và chỉ tập trung xem xét và nghiên cứu 2 yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế là vốn và lao động, từ đó đề xuất ra hàm sản xuất Cobb-Douglas [57]: Y = f(K,L) = AKαLβ Với A là hằng số, α và β là số mũ của K và L. Nhiều nghiên cứu về các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế sau đó tiếp tục áp dụng mô hình tăng trưởng dạng hàm sản xuất, nổi bật có Harrod – Domar và Solow. Mô hình Harrod - Domar là sự kết hợp của 2 công trình nghiên cứu độc lập của 2 nhà kinh tế học Roy Harrod (1939) và Evsey Domar (1946) [67], [73]. Nền tảng xây dựng nên lý luận của mô hình này dựa trên quan điểm về tăng trưởng của Keynes (1936) trong tác phẩm “The General Theory of Employment, Interest, and Money” (Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ).
Trong tác phẩm này, Keynes cho rằng sự gia tăng trong tổng tiêu dùng sẽ làm tổng cầu tăng lên, từ đó khiến cho quy mô của nền kinh tế tăng lên và suy thoái trong nền kinh tế giảm xuống. Trong tổng chi tiêu thì Keynes đánh giá cao vai trò của đầu tư (hay tiết kiệm theo quan điểm của ông) trong việc tạo hiệu ứng tăng thu nhập và là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế [81]. Dựa trên xuất phát điểm trên, Harrod – Domar nhận định rằng đầu tư chính là cơ sở để tạo nên vốn sản xuất tương lai và vốn sản xuất đóng vai trò quan trọng đối với sự gia tăng quy mô của nền kinh tế, hay nói cách khác, bằng cách thúc đẩy tỷ lệ tiết kiệm hay khối lượng vốn vào đầu tư thì sẽ đẩy mạnh tăng trưởng. Trong mô hình của mình, Harrod – Domar cố định các nhân tố tác động đến tăng trưởng, ngoại trừ 3 yếu tố được xem là quan trọng nhất là vốn, lao động và tài nguyên; và đề xuất hàm sản xuất: Y = f(K,L,R) Với K là thước đo tổng hợp vốn, L là số lượng lao động và R là số lượng tài nguyên.
8 Thập kỷ 50 của thế kỷ 20 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại với sự ra đời của hàng loạt các phát minh khoa học và nguồn tài nguyên mới được khai thác để phục vụ cho quá trình sản xuất. Trong bối cảnh đó, sự ra đời của mô hình tăng trưởng Solow (1956) với thuyết “Kỹ trị” đã đem lại nhiều đóng góp mới trong lý luận tăng trưởng kinh tế. Trong đó, Solow đề cao vai trò của tiến bộ kỹ thuật đến sự tăng trưởng kinh tế khi cho rằng chính sự phát triển trong phương pháp sản xuất là cơ sở để duy trì gia tăng qui mô của nền kinh tế, từ đó dẫn đến tính bền vững của tăng trưởng kinh tế [115]. Thông qua phân tích thực chứng, ông cũng tính được đóng góp của nhân tố tiến bộ kỹ thuật đến tỷ lệ tăng trưởng tăng trưởng kinh tế Mỹ là 87,5%.
Hàm sản xuất Solow có dạng: Y = f(K,L,T) Với K là thước đo tổng hợp vốn, L là số lượng lao động và T là yếu tố khoa học kỹ thuật (KHKT). Như vậy, hàm sản xuất của Solow cho rằng trong quá trình sản xuất thì chỉ các yếu tố vốn, lao động và công nghệ là đóng vai trò lớn và các yếu tố đầu vào khác chỉ có đóng góp không đáng kể. Nói cách khác, ông đã bác bỏ vai trò quan trọng của các yếu tố đất đai và tài nguyên thiên nhiên trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở hàm sản xuất truyền thống, từ đó gián tiếp phản tư thuyết “Tích lũy tư bản” vốn đang thống trị tư tưởng kinh tế trong giai đoạn này. Tuy nhiên, hạn chế của mô hình Solow là ông cho rằng tiến bộ KHCN là yếu tố tác động từ bên ngoài (nên mô hình Solow còn được gọi là mô hình tăng trưởng ngoại sinh), từ đó dẫn đến việc khó lý giải được vai trò thật sự của tiến bộ kỹ thuật trong thúc đẩy tăng trưởng dài hạn.
Mặc dù vậy, không thể phủ nhận rằng mô hình Solow thực sự là mô hình hoàn chỉnh đầu tiên về tăng trưởng kinh tế và hiện vẫn là mô hình thường xuyên được lựa chọn trong các nghiên cứu liên quan đến tăng trưởng kinh tế. Thuyết “Kỹ trị” của Solow sau đó được bổ sung và phát triển thêm bởi thuyết “Tư bản nhân lực” với Schultz (1945, 1971) và Lucas (1986) là 2 đại diện tiêu biểu. Thông qua việc kế thừa và vận dụng khái niệm tư bản của kinh tế học cổ điển, Schultz chia tư bản làm 2 hình thức là tư bản thông thường và tư bản nhân lực. Ông 9 cho rằng việc phát triển các mặt y tế, giáo dục, an ninh xã hội thông qua đầu tư sẽ làm tăng chất lượng, chuyên môn và kỹ thuật của con người lao động.
Tư bản thông thường nhờ đó trở thành tư bản nhân lực (vốn nhân lực), từ đó nâng cao sản lượng sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lâu dài [111], [112]. Lucas (1988) xây dựng mô hình tăng trưởng của tích lũy tư bản nhân lực chuyên môn hóa để bổ sung và phát triển thêm thuyết “Tư bản nhân lực”. Theo đó, ông chia tư bản làm 2 loại là “tư bản hữu hình” (vốn vật chất) và “Tư bản vô hình” (vốn nhân lực). Vốn nhân lực chỉ những kỹ năng, kiến thức, khả năng của mỗi con người có thể áp dụng trong các hoạt động kinh tế.