phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu Chƣơng 2: Thực trạng quản lý, bảo vệ rừng và tiếp cận thị trường của người dân Chƣơng 3:Những giải pháp chủ yếu nhằm khai thác tốt mối quan hệ tiếp cận thị trường và quản lý, bảo vệ rừng Mẫu sơn. Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học về đề tài 1. Một số khái niệm, định nghĩa trong đề tài * Khái niệm về Thị trƣờng: Thị trƣờng ra đời và phát triển gắn với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá.
Từ đó đến nay, nền sản xuất hàng hoá đã phát triển và trải qua nhiều thế kỷ, có nhiều thay đổi mang tính hiện đại và có những lƣu giữ mang tính truyền thống. Việc tiêu thụ sản phẩm của ngƣời sản xuất, thực hiện các dịch vụ của các doanh nghiệp dịch vụ cũng nhƣ bán hàng của các danh nghiệp thƣơng mại đều diễn ra trên thị trƣờng. Trong khi đó, cạnh tranh lại đòi hỏi ngƣời sản xuất phải ra sức cố gắng giành vị thế cao trên thị trƣờng. Dựa trên cơ sở chi phí kinh doanh tính trên một đơn vị sản phẩm sản xuất ra, ngƣời sản xuất có thể xác định đƣợc mức giá sản phẩm mà ngƣời sản xuất có thể chấp nhận đƣợc và phải nhất thiết tiêu thụ trên thị trƣờng vì các lý do.
Hoạt động trong nền kinh tế thị trƣờng hàng hoá nhiều thành phần, nền kinh tế thị trƣờng, mỗi ngƣời sản xuất là một đơn vị sản xuất hàng hoá với mục đích là để bán và kiếm đƣợc nhiều lợi nhuận. Muốn duy trì và phát triển hàng hoá trong nền kinh tế thị trƣờng, mỗi ngƣời sản xuất phải thực hiện cho đƣợc vấn đề tái sản xuất mở rộng với bốn khâu: Sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Vì vậy bốn khâu này vận động một cách thông suốt thì sản phẩm hàng hoá của ngƣời sản xuất nhất thiết phải đƣợc tiêu thụ trên thị trƣờng. Mỗi ngƣời sản xuất khi tiến hành xây dựng và thực hiện chiến lƣợc, kế hoạch sản xuất kinh doanh và phản ánh sản phẩm của mình phải quán triệt phƣơng châm: Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 + Tiêu - cung - sản.
+ Chỉ đƣa ra chiến lƣợc, kế hoạch và phƣơng án những mặt hàng sản phẩm đã ký kết đƣợc hợp đồng tiêu thụ hoặc chắc chắn sẽ tiêu thụ. Hoạt động trong nền kinh tế thị trƣờng, mỗi ngƣời sản xuất phải quán triệt quan điểm marketing: chỉ sản xuất những cái mà thị trƣờng cần, chứ không phải sản xuất kinh doanh những cái mình có sẵn. Những luận cứ nêu trên là hoàn toàn đúng đắn, vừa có cơ sở khoa học, vừa có thực tiễn sâu sắc. Thị trƣờng phát triển đa dạng và phong phú ở nhiều lĩnh vực khác nhau nên cũng có nhiều định nghĩa khác nhau.
Thị trƣờng là một phạm trù của nền kinh tế hàng hoá và đƣợc nhiều nhà kinh tế định nghĩa khác nhau. - Thứ nhất: Thị trƣờng là tổng hợp các lực lƣợng và điều kiện trong đó ngƣời mua và ngƣời bán thực hiện các quyết định chuyển hàng hoá dịch vụ từ ngƣời bán sang ngƣời mua. + Theo Davi begg: “thị trƣờng là tổng hợp các sự thoả thuận mà thông qua đó ngƣời mua và ngƣời bán tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá dịch vụ”. Một định nghĩa khác cho biết: Thị trƣờng là nơi mua bán hàng hoá, là quá trình trong đó ngƣời mua và bán một thứ hàng hoá tác động qua lại nhau để xác định giá cả và số lƣợng hàng hoá, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán bằng tiền trong một khoảng thời gian không gian nhất định.
Theo Ngân hàng phát triển châu Á: Thị trƣờng là một thể chế (hay là tập hợp các nguyên tắc) tồn tại để phục vụ việc trao đổi: đó là chúng tồn tại để giảm giá thành của việc thực hiện giao dịch. Một thị trƣờng vận động tốt sẽ giảm giá giao dịch giữa ngƣời mua và ngƣời bán đến mức thấp nhất. Một thị trƣờng làm việc gồm có 4 phần: + Một nền tảng thể chế: gồm quy luật, quy tắc, quy định và năng lực bắt buộc điều chỉnh tạo nên và giữ vững thị trƣờng. Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 + Tổ chức dịch vụ cung cấp dịch vụ trung gian cho ngƣời tham gia và điều khiển thị trƣờng: Những dịch vụ này bao gồm từ những dịch vụ cơ bản đến việc nghiên cứu thị trƣờng.
+ Ngƣời tiêu dùng là những ngƣời muốn mua sản phẩm và dịch vụ và có tiền để làm việc đó. + Ngƣời sản xuất là ngƣời cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong thị trƣờng: Mặc dù cơ cấu thị trƣờng và số lƣợng quy mô, loại hình tổ chức đa dạng trong các lĩnh vực thị trƣờng dựa vào lịch sử, giai đoạn tăng trƣởng và các rào cản để đi vào lĩnh vực đó. - Theo Cramer, 1997: Thị trƣờng gồm ngƣời mua và ngƣời bán với những điều kiện đảm bảo có thể giao tiếp đƣợc với nhau. Thị trƣờng là không nhất thiết phải có một địa điểm cụ thể, cho dù một số ngƣời hiểu thị trƣờng theo khía cạnh này, nghĩa là phải có thị trƣờng hàng hoá.
Thị trƣờng có thể là ở tầm địa phƣơng, khu vực, quốc gia hay quốc tế. Một yêu cầu duy nhất về sự tồn tại của thị trƣờng là phải có luồng cung cầu để xác định giá thị trƣờng thông qua giao tiếp giữa ngƣời mua và ngƣời bán--->Nhƣ vậy, thị trƣờng khái quát 3 yếu tố: + Có chủ thể tham gia: Ngƣời mua, ngƣời bán + Có đối tƣợng trao đổi: Hàng hoá, dịch vụ + Có điều kiện để thực hiện quá trình trao đổi: Khả năng thanh toán của ngƣời mua, thời gian, không gian, pháp luật,. Tuỳ theo các cách tiếp cận về thời gian, không gian, địa lý, có thể những định nghĩa khác nhau nhƣng dù đứng ở góc độ nào thì để tồn tại thị trƣờng luôn cần sự có mặt của các yếu tố sau đây: Thứ nhất: khách hàng đƣợc xem là yếu tố kiên quyết của thị trƣờng, thị trƣờng phải có khách hàng không nhất thiết phải gắn với địa điểm cố định. Thứ hai: khách hàng không phải có nhu cầu chƣa đƣợc thoả mãn.
Đây đƣợc xem là động lực thúc đẩy khách hàng mua hàng hoá và dịch vụ. Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 Thứ ba: để việc mua bán hàng hoá và dịch vụ đƣợc thực hiện thì yếu tố quan trọng là khách hàng phải có khả năng thanh toán. * Phân loại thị trƣờng: Căn cứ vào công cụ của hàng hoá ta chia ra: + Thị trƣờng các yếu tố đầu vào: Đó là những sản phẩm dùng để sản xuất, là những tƣ liệu sản xuất nhƣ máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hoá chất, dụng cụ,…Trong sản xuất nông nghiệp nhƣ: Phân bón, giống, thức ăn, thuốc, nguồn vốn,… + Thị trƣờng các yếu tố đầu ra: là sản phẩm dùng cho tiêu dùng cá nhân của con ngƣời nhƣ: Lƣơng thực, thực phẩm, quần áo,… Căn cứ vào nguồn gốc sản xuất ra hàng hoá: + Thị trƣờng hàng công nghiệp: Là các loại sản phẩm do xí nghiệp công nghiệp khai thác, chế biến sản xuất ra. + Thị trƣờng hàng nông nghiệp (nông, lâm, thuỷ sản): Là các hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật.
* Tiếp cận thị trƣờng: Tiếp cận thị trƣờng cho hàng hoá đƣợc Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) định nghĩa là các điều kiện về thuế quan và các biện pháp phi thuế quan, theo sự thoả thuận của các thành viên của tổ chức cho sự xâm nhập của một loại hàng hóa cụ thể vào thị trƣờng của họ. Tiếp cận thị trƣờng nông sản phẩm là việc ngƣời nông dân có đầy đủ thông tin, tiềm lực xã hội, tài chính, vật chất để mua vật tƣ đầu vào và bán sản phẩm nông nghiệp làm ra ở các khu vực có lợi cho họ. Nghĩa là ngƣời nông dân có đủ nguồn lực để có thể giao thiệp với ngƣời bán vật tƣ đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất của nông hộ, đồng thời họ cũng có đủ khả năng để tiếp cận và đàm phán với các nhà cơ sở thu mua để bán sản phẩm họ làm ra ở một mức có lợi (Kleih, 1999). Điều này cho thấy điều kiện cơ bản nhất để tiếp Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 cận thị trƣờng nông nghiệp là có sự tồn tại của cầu cho các loại sản phẩm tiềm năng từ khu vực nông thôn.
Quy luật tự nhiên của sản phẩm đầu vào và đầu ra, phƣơng thức tiếp cận thị trƣờng của ngƣời dân và những yêu cầu phải đƣợc thực hiện nhằm nâng cao khả năng tiếp cận thị trƣờng. Tiếp cận thị trƣờng không thể thực hiện nhƣ một lĩnh vực riêng lẻ. Tiếp cận thị trƣờng phải đƣợc nhìn nhận nhƣ một phần đầy đủ, trọn vẹn, không thể thiếu của hệ thống hàng hoá. Một mặt, ngƣời nông dân phải biết đâu là nơi họ bán sản phẩm trƣớc khi hoạt động sản xuất.
Mặt khác, nguồn cung cấp đầy đủ, thích hợp và thoả đáng các khía cạnh vật chất chất lƣợng và số lƣợng là yêu cầu đầu tiên, tiên quyết cho một hệ thống thị trƣờng hiệu quả. Luồng cung cấp thị trƣờng và cầu hàng hoá đƣợc trao đổi bằng các hợp đồng bao tiêu sản phẩm hoặc dịch vụ ăn khớp với khách hàng giữa ngƣời mua và ngƣời bán thông qua thị trƣờng. Nâng cao sự liên kết giữa các mắt xích của hệ thống thị trƣờng (chuỗi sản xuất), ở đây là ngƣời nông dân nói chung và ngƣời kinh doanh nói riêng, là một vấn đề cực kỳ quan trọng của tiếp cận thị trƣờng. Bên cạnh đó, cải thiện hệ thống giao thông, luồng thông tin về sản phẩm, về thị trƣờng là các yếu tố không thể thiếu nhằm có đƣợc sự liên kết hiệu quả và bền vững.
Đó là quy luật lƣu thông của đầu vào và đầu ra trong nông nghiệp với sự tham gia của nông dân.Bly “ Hƣớng dẫn hoàn hảo phƣơng pháp tiếp cận thị trƣơng” Tiếp cận thị trƣờng là một quá trình tìm kiếm, phát hiện và đánh giá những nhu cầu của thị trƣờng từ đó lên kế hoạch sản xuất kinh doanh, lựa chọn thị trƣờng mục tiêu xâm nhập thị trƣờng, tiếp cận khách hàng để đạt mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh là tiêu thụ sản phẩm.