Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; Chương 2: Thực trạng pháp luật trong kiểm soát ô nhiễm môi trường biển tại Việt Nam và kinh nghiệm của một số quốc gia trong kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; Chương 3: Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong kiểm soát ô nhiễm môi trường biên tại Việt Nam. CƠ SO LÝ LUẬN VE PHÁP LUAT KIEM SOÁT Ô NHIEM MOI TRUONG BIEN Ngày 14 thang 7 năm 2016, Ủy ban Hai dương học Liên chính phủ của UNESCO về tình trạng báo cáo nghiên cứu hệ sinh thái biển quy mô lớn toàn cầu do biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng và các hoạt động của con người dan đến tình trạng hệ sinh thái biển quy mô lớn toàn cầu đáng lo ngại. Trong số 66 hệ sinh thái biển lớn trên thé giới, hon 50% nguồn lợi thủy san bị đánh bắt quá mức và 64 hệ sinh thái biển lớn bị ảnh hưởng bởi hiện tượng nước biên nóng lên. Ngoài ra, hơn 50% rạn san hô trên thế giới đang bị đe dọa, đến năm 2030 tỷ lệ này sẽ lên tới 90% [New UN-backed survey reveals ‘alarming’ damage to high seas and marine ecosystems, United Nation, 14 July 2016] Theo bà Lisa Erdle, Giám đốc Nghiên cứu và đổi mới tại Viện 5 Gyres (Mỹ) chia sẻ: “Lượng rác thải nhựa đã lớn hơn rất nhiều so với ước tính”.
Trong vài thập niên trở lại đây, việc sản xuất nhựa, đặc biệt là nhựa dùng một lần đang gia tăng nhanh chóng và gây quá tải cho hệ thống xử lý rác thải, chỉ có khoảng 9% nhựa toàn cầu được tái chế [More than 170 trillion plastic particles found in the ocean as pollution reaches ‘unprecedented’ levels, March 8 2023]. Một lượng lớn rac thải nhựa đã bị đồ ra biển. Phan lớn là rác thai từ đất liền theo luồng gió hay các dòng nước mưa chảy xuống sông, sau đó sông cuốn ra biển. Một lượng nhỏ khác đến từ các dụng cụ đánh bắt cá mat hoặc bị rơi xuống biển.
Nhìn chung, môi trường biển toàn cầu đang phải đối mặt với những thách thức to lớn, chăng hạn như tôn hại hệ sinh thái biển do đánh bắt quá mức, nhiệt độ nước biển tăng, ô nhiễm chat thải như nhựa và hiện tượng phú dưỡng của nước biển. Dang nhắc nhở mọi người rang đã đến lúc phải hành động dé bao vệ môi trường biển. Các hoạt động của con người dẫn đến gia tăng chất thải, ảnh hưởng đến môi trường các khu vực ven biên, các vùng biên và hải dao. Di kèm với sự phát triên 14 đô thị ven biển là sự gia tăng dân số, chủ yếu là sự gia tăng cơ học, các đô thị biển cũng thu hút khách du lịch dẫn đến gia tăng các nguồn thải, gây áp lực lên hạ tầng đô thị, đặc biệt là hệ thống cung cấp điện, nước, hệ thống xử lý chất thải.
Ngoài ra, một áp lực lớn khác đối với môi trường biển là tình trạng rác thải nhựa đại dương đang là van đề nóng trên toàn cau, đặc biệt tại các quốc gia ven biên như Việt Nam. Chat thải nhựa đại dương trở thành mối nguy lớn cho môi trường biển bởi có số lượng lớn, đặc tính khó phân hủy trong môi trường biển và khả năng di chuyển xa. Tình trang 6 nhiễm chất hữu cơ, dau mỡ đang diễn ra ở mức khá cao và vượt mức cho phép ở gần các khu du lịch, khu đông dân cư trải dài từ Bắc vào Nam, đặc biệt là vùng cửa sông tại các tỉnh, thành phố phía Bắc và dọc theo ven biển Đồng bằng sông Cửu Long. Theo thống kê, trên 100 vụ tràn dầu do tai nạn tàu đã xảy ra trong 10 năm gần đây, đều theo gió mùa, dòng hải lưu đi chuyển về phía bờ biên Việt Nam.
Ngoài ra, ở vùng biển Việt Nam có khoảng 340 giếng khoan thăm dò và khai thác dầu khí, bên cạnh thải nước lẫn dầu với khối lượng lớn, hoạt động này còn phát sinh khoảng 5.600 tấn chất thải rắn, trong đó có 20-30 % là chất thải rắn nguy hại còn chưa có bãi chứa và nơi xử lý [Bảo vệ môi trường biển: Tinh trang 6 nhiễm ở mức đáng báo động, Phong Duy, Tạp chí Ban Tuyên giáo Trung ương, 25/10/2021]. Từ những báo cáo trên có thể thấy ô nhiễm môi trường xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau như: Từ những hoạt động trên biển (du lịch, khai thác tài nguyên khoáng sản, đánh bắt thủy sản.); ô nhiễm từ đất liền (chất thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nông nghiệp.); ô nhiễm do sự cô tran dau, tai nạn tàu biển; ô nhiễm đo triều cường dâng cao gây ô nhiễm dòng sông, rồi chảy ra biển. Kiểm soát ô nhiễm môi trường biến 1. Khái niệm ô nhiễm môi trường biển Định nghĩa về ô nhiễm môi trường biển được nhóm chuyên gia về các khía cạnh khoa học của 6 nhiễm biển (Joint Group of Experts on the Scientific 15 Aspects of Marine Pollution - GESAMP) đưa ra vào năm 1969 “Ô nhiễm môi trường biển là việc con người đưa các chất liệu vào môi trường biên dẫn đến những tác động có hại cho tài nguyên sinh vật, nguy hiểm cho sức khỏe con người, can trở các hoạt động biên bao gồm đánh bat cá, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển” [GESAMP I/11, mục 12, tr.5] và sau đó được chỉnh sửa vào năm 1981 “Ô nhiễm môi trường biển là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng và môi trường biển (bao gồm cả các cửa sông) dẫn đến những tác động có hại cho nguyên sinh vật, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, can trở các hoạt động biên bao gồm đánh bat cá, làm biến đổi chất lượng nước biên về phương diện sử dụng và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển” [Báo cáo kỳ họp thứ mười hai tai Geneva, ngày 22 — 28/10/1981,tr.
Có thê nói đây là định nghĩa đầu tiên về ô nhiễm biển bởi nó đã nêu ra đầy đủ các nguyên nhân và tác hại của ô nhiễm môi trường biển như: Con người là nguyên nhân chủ yếu làm ô nhiễm môi trường thông qua việc đưa các chất và năng lượng vào môi trường biển; Các chất gây ô nhiễm phát tán qua các chu trình khác nhau và gây ton hại đến sinh vật sống trên biển, gây hại cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động trên biển. Tại Hội nghị Luật Biển (New York, ngày 15 tháng 3 — ngày 08 tháng 05 năm 1976), định nghĩa ô nhiễm môi trường của GESAMP rất được quan tâm và đề xuất sửa đôi như sau: “Ô nhiễm môi trường biển là việc con người, trực tiếp hoặc gián tiếp, đưa các chất độc hại vào môi trường biển (bao gồm cả cửa sông) ảnh hưởng hoặc có khả năng ảnh hưởng đến tài nguyên sinh vật hoặc phi sinh vật, gây ra mối nguy hại đối với sức khoẻ con người, gây cản trở cho các hoạt động trên biển bao gồm đánh bắt hải sản và các hoạt động sử dụng biển hợp pháp khác, làm biến đồi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng và làm giảm sút các giá tri mỹ cảm của biển” [GESAMP VIII/11, mục 73-74, tr. 16 Theo Khoản 4, Điều 1 của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) đã đưa ra định nghĩa: “Ô nhiễm môi trường biển là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây tôn hại nguồn lợi sinh vật, hệ động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biến, ké cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng va làm giảm sút các giá trị mỹ cam của biển”. Định nghĩa về 6 nhiễm môi trường biển tại UNCLOS 1982 có điểm tương đồng với đề xuất sửa đôi định nghĩa ô nhiễm môi trường tại Hội nghị Luật Biển 1976, còn so với định nghĩa của GESAMP thì có điểm khác biệt.
Định nghĩa ô nhiễm môi trường biển của cả GESAMP và Công ước Luật Biển 1982 đều có nhắc đến tác hại xảy ra với hệ sinh thái biển, tuy nhiên, GESAMP chi nhắc đến trường hợp đã và đang xảy ra, còn Công ước Luật Biển 1982 có đề cập đến những tác hại tiềm ấn trong tương lai. Ngoài ra, các định nghĩa nêu trên đều liệt kê những tốn hai do ô nhiễm môi trường biển như: nguồn lợi các hệ sinh vật biển, sức khỏe con người, ảnh hưởng đến các hoạt động trên biển. Tuy nhiên, UNCLOS 1982 mở rộng đối tượng chịu ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường “các việc sử dụng một cách hợp pháp khác”. Tại Khoản 12, Điều 3 Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam năm 2020 có định nghĩa: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuẩn môi trường gây anh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên”.
Có thể thấy, khái niệm về 6 nhiễm môi trường biển trong các định nghĩa nêu trên đều liệt kê các hành vi gây 6 nhiễm môi trường biên; kê cả các hành 17 vi sử dụng biển hợp pháp gây ô nhiễm. Tuy nhiên, những khái niệm đó chỉ giới hạn điều chỉnh các hành vi gây ô nhiễm do con người trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra mà không điều chỉnh van dé ô nhiễm môi trường biển do tác động của tự nhiên như động đất, sóng thần. Theo UNCLOS 1982, 6 nhiễm môi trường biển bao gồm các nguồn như: Ô nhiễm bắt nguồn từ đất; Ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáy biển thuộc quyền tai phán quốc gia gây ra; Ô nhiễm do các hoạt động tiễn hành trong Vùng gây ra; Ô nhiễm do sự nhận chìm; Ô nhiễm do tàu thuyền gây ra; Ô nhiễm có nguôn gốc từ bầu khí quyền hay qua bầu khí quyền.