CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Phá sản và pháp luật phá sản là vấn đề không mới lạ đối với đa số các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, tự do và hoàn hảo. Do vậy để có cơ sở lý luận và khoa học cho các nhà làm luật hoạch định chính sách phá sản, các nhà nghiên cứu đã có nhiều công trình chuyên sâu về vấn đề này.
Với giới hạn hiểu biết của tác giả thì hiện nay trên thế giới đã hình thành các học thuyết về phá sản cơ bản sau đây: Thứ nhất, học thuyết về chính sách phá sản (bankruptcy-policy Theory) Tác giả của học thuyết này là Elizabeth Warren. Tư tưởng chủ đạo của học thuyết là: pháp luật phá sản không chỉ là giải quyết vấn đề đòi nợ tập thể, ngoài việc giải quyết đòi nợ tập thể pháp luật phá sản còn phải chú trọng đến các vai trò xã hội khác, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế khủng hoảng, do vậy, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh, thể chế chính trị, cơ chế kinh tế của từng quốc gia cụ thể mà ở đó pháp luật phá sản nên được hình thành theo các thủ tục không nhất thiết phải giống nhau [88]. Thứ hai, học thuyết về chia sẻ rủi ro (Risk-Sharing Theory) Người đề xuất học thuyết này là Thomas H. Jackson và Robert E.
Mục đích mà học thuyết này hướng tới là làm rõ các cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện các quy định của luật phá sản về tái tổ chức hoạt động của con nợ. Tư tưởng chủ đạo của học thuyết này: Pháp luật phá sản mục tiêu quan trọng là tối đa hóa giá trị tài sản của con nợ, bên cạnh đó việc các chủ nợ cùng tham gia chia sẻ nguy cơ thất bại với các chủ nợ cũng được coi là mục tiêu thứ yếu. Do vậy, pháp luật phá sản chú trọng đến khả năng thương lượng, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạo hành lang pháp lý để các bên có cơ hội hòa giải thông qua đó nhằm hướng chủ nợ và con nợ đến việc chia sẻ rủi ro và cả hai nhóm chủ nợ này cũng phải đối phó với nguy cơ mất khả năng thanh toán của con nợ [88]. Thứ ba, công trình nghiên cứu về tính đặc thù, khuynh hướng xây dựng và áp dụng Luật Phá sản của các quốc gia có nền kinh tế chuyển đối.
Ngoài những học thuyết cơ bản tác giả nêu trên, năm 1996 (sau khi nền kinh tế kế hoạch của một loạt các quốc gia Đông Âu sụp đổ) tác giả Michael Kim đã có công trình nghiên cứu giới hạn trong phạm vi bài viết đăng tải trên tạp chí Fordham LawRewiew với tiêu đề “ When nonuse is useful: Bankruptcy law in post – Communist Central and Eastern Europe” tạm dịch là “Khi Luật phá sản không được sử dụng một cách có hiệu quả ở các nước Trung và Đông Âu thời kỳ hậu chủ nghĩa cộng sản”. Đối tượng nghiên cứu Michael Kim hướng tới là Luật Phá sản ở hai quốc gia: Cộng hòa Séc và Hungary vào thời điểm chủ nghĩa cộng sản ở khu vực này đã thực sự sụp đổ. Giả thuyết tác giả đặt ra khi nghiên cứu là “nếu các quốc gia này có một nền kinh tế thị trường hoàn hảo” để có thể áp dụng luật phá sản hiện đại một cách có hiệu quả. Công trình nghiên cứu của Michael Kim chỉ ra rằng: Từ sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Trung và Đông Âu (CEE) đã làm nảy sinh nhiệm vụ khó khăn cho những nền kinh tế thị trường đang phát triển [92].
Các quốc gia CEE phải đối mặt với một di sản của chủ nghĩa cộng sản, đó là sự đi ngược lại nền kinh tế thị trường. Dưới chủ nghĩa cộng sản, chính phủ sở hữu tất cả tài sản và lập kế hoạch hoạt động của phần lớn các đối tượng tham gia vào nền kinh tế (chủ thể kinh tế) thông qua sự điều hành tập trung thống nhất từ Trung ương. Nhà nước đảm bảo một nền kinh tế giả tạo [92]. Nhà nước điều khiển sự phối hợp và các khoản đầu tư, tín dụng và tiền lương, việc đầu tư và bao cấp trong các Ngân hàng doanh nghiệp, thậm chí ngay cả khi chúng không tạo ra lợi nhuận, kết quả của nền kinh tế là sự thiếu vắng của hiện 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tượng phá sản và không có thất nghiệp.
Do đó các chủ thể kinh tế dưới thời chủ nghĩa cộng sản không bị sức ép về mặt tài chính nhưng cũng không giỏi tạo ra lợi nhuận hay đạt được những thành công trong kinh doanh [92]. Những quyết định đầu tư trong thành phần kinh tế Nhà nước không xuất phát từ động cơ lợi nhuận. Dưới chủ nghĩa cộng sản, mọi người bỏ qua những quy luật thị trường cơ bản (quy luật tối đa hóa lợi nhuận) và đứng ngoài cuộc cạnh tranh. Do đó không cần thiết cho một cơ chế thị trường căn bản, chẳng hạn như Luật Phá sản hay Luật Cạnh tranh [92].
Sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, các quốc gia CEE đua nhau bắt đầu sự chuyển đổi nền kinh tế sang kinh tế thị trường. Nền kinh tế chuyển đổi vừa hướng tới kinh tế thị trường vừa bắt bản thân nó phải chấp nhận tính khắc nghiệt của kinh tế thị trường. Với sự phân tích sâu sắc và toàn diện tác giả chỉ ra các mô hình áp dụng Luật Phá sản ở các quốc gia này. Ví dụ: Ở Cộng hòa Séc đã xây dựng luật phá sản theo mô hình “tăng tốc” tiếp cận nhanh hơn với nền kinh tế thị trường, trong khi đó Hungary thì lại áp dụng mô hình phá sản “từ từ” để phù hợp với đặc trưng của một nền kinh tế chuyển đổi.
Tóm lại, qua sự khảo sát, phân tích đánh giá, Tác giả đã đi đến nhận định: Luật Phá sản khó có thể sử dụng một cách có hiệu quả ở những quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi (chưa hoàn hảo). Những dự đoán của các chuyên gia phương tây về việc sử dụng Luật Phá sản tràn khắp các nước CEE dựa trên sự chấp nhận thị trường đã không tồn tại [82]. Có thể thấy “When nonuse is useful: Bankruptcy law in post – Communist Central and Eastern Europe” là công trình nghiên cứu hữu ích cho Việt Nam khi hoàn thiện pháp luật Phá sản trong thời gian tới về việc lựa chọn mô hình phá sản phù hợp để đảm bảo tính khả thi cao. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Pháp luật phá sản nói chung và vấn đề thực thi pháp luật phá sản nói riêng là một lĩnh vực khá mới mẻ ở một quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi nói chung và Việt Nam nói riêng.
Chính vì vậy vấn đề này đã được nhiều học giả đặc biệt quan tâm, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này phải kể đến như: Thứ nhất, ở bình diện khái quát mang tính lý luận chung có các công trình tiêu biểu như: “ Phá sản doanh nghiệp - một số vấn đề thực tiễn” của Nguyễn Tấn Hơn, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia 1995; “Pháp luật về phá sản doanh nghiệp trong Luật kinh tế Việt Nam” của Bùi Nguyên Khánh, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996; “Đi tìm triết lý Luật Phá sản” của Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 16 năm 2003; “Chuyên khảo Luật Kinh tế” của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004; “Luật Phá sản 2004 với việc cải thiện môi trường liên doanh tại Việt Nam” của PGS.TS Dương Đăng Huệ - Tạp chí dân chủ và pháp luật- số 03/2005; “Một số suy nghĩ về Luật Phá sản năm 2004” của Tô Nguyễn Cẩm Anh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 06/2005; Thứ hai, ở giác độ pháp luật so sánh với pháp luật phá sản nước ngoài có các công trình điển hình như: “Pháp luật về phá sản của Việt Nam và pháp luật Phá sản Úc: Những nét tương đồng và khác biệt” của T.S Dương Đăng Huệ, Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, số 03/1995; “Pháp luật quốc tế về phá sản và vận dụng vào việc xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi) ở nước ta”, công trình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Hà Nội, 2001; “Luật Phá sản doanh nghiệp Việt Nam dưới góc độ luật so sánh và phương hướng hoàn thiện” Luận án tiến sĩ Luật học của Trương Hồng Hải - Đại học Luật Hà Nội 2004; “ Luật 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phá sản của Việt Nam và Luật Phá sản của cộng hòa Pháp- những nét tương đồng và khác biệt” Luận văn thạc sĩ của An Phương Huệ, 2004; “So sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước về phá sản và định hướng sửa đổi Luật phá sản 2004” của PGS.TS Ngô Huy Cương - tham luận hội nghị tổng kết thực tiễn thi hành Luật Phá sản tại Đà Nẵng; Thứ ba, ở giác độ nghiên cứu pháp luật phá sản nước ngoài có công trình tiêu biểu như: “Luật Phá sản của Hoa Kỳ” của TS. Bùi Nguyên Khánh, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật năm 2002. Thứ tư, vấn đề hoàn thiện pháp luật phá sản có các công trình điển hình sau: “Những giải pháp pháp lý cần xây dựng và hoàn thiện nhằm đảm bảo doanh nghiệp rút khỏi thị trường” của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp năm 2002; “Một số ý kiến về dự thảo pháp luật phá sản (sửa đổi)” của PGS.