CHƯƠNG 1: ODA VÀ NGUỒN VỐN ODA CỦA WB 1. Tổng quan về ODA 1. Khái niệm về ODA Tháng 4 năm 1944, trước tình hình đại chiến thế giới sắp kết thúc, 44 nước đã tham gia vào hội nghị tài chính quốc tế tại Bretton Wood (Mỹ) thành lập ra quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng tái thiết và phát triển (IBRD). IBRD chính thức đi vào hoạt động ngày 25/6/1946, còn IMF chính thức đi vào hoạt động tháng 3/1947.
Sau khi chiến tranh kết thúc năm (1945), các nước Châu Âu, Châu Á đều bị chiến tranh tàn phá. Riêng Mỹ ít bị thiệt hại thậm chí cò phất lên nhờ chiến tranh. GDP năm 1945 của Mỹ là 213,5 tỷ USD, bằng khoảng 48% tổng GDP của thế giới, tăng gần 2 lân so với 125,8 tỷ USD năm 1942. Để giúp đỡ các đồng minh Tây Âu khôi phục kinh tế, phát huy ảnh hưởng chính trị, đồng thời ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Mỹ đã triển khai “kế hoạch Marsahall” thông qua ngân hàng thế giới chủ yếu là IBRD.
Thông qua kế hoạch này Mỹ đã thực hiện tài trợ vốn ồ ạt được ví là “ trận mưa dollar” khổng lồ cho Tây Âu với tên gọi là khoản “Hỗ trợ phát triển chính thức ODA”. Từ đó đến nay theo sự phát triển của mối quan hệ quốc tế, nguồn vốn ODA liên tục được đưa vào các nước đang phát triển. Nghiên cứu về nguồn vốn này có rất nhiều quan điểm, trong bài viết này xin đưa ra một số quan điểm về khái niệm nguồn vốn ODA như sau: ODA là tên gọi tắt của ba chữ tiếng Anh: Official Development Assistance, có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức. Khái niệm ODA được ủy ban viện trợ phát triển DAC (Development Assistance Committee) của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đề cập SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN.
Bùi Thị Nguyệt Dung vào năm 1969. Theo DAC thì ODA là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với điều kiện ưu đãi. ODA được hiểu là nguồn vốn được dành cho các nước đang và kém phát triển được các cơ quan chính thức của chính phủ trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ các tổ chức liên chính phủ và các tổ chức phi chính phủ tài trợ. Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu tất yếu của một quốc gia, một địa phương một ngành được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và tổ chức tài trợ thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên (bên nhận vốn và bên hỗ trợ vốn) kí kết hiệp định quốc tế này được chi phối bởi Công Pháp Quốc Tế.
Theo quan điểm của chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) thì nguồn vốn hỗ trợ phát triền chính thức gồm cả khoản cho không và các khoản vay đối với các nước đang phát triển dó là nguồn vốn do các bộ phận chính thức cam kết (nhà tài trợ chính thức), nhằm mục đích cơ bản là phát triển kinh tề và phúc lợi xã hội được cung cấp bằng các điều khoản tài chính ưu đãi (nếu lá các khoản vay sẽ có yếu tố cho không ít nhất là 25%). Theo định nghĩa của ngân hàng thề giới WB thì ODA là khoản tài trợ hoặc giải ngân vốn vay ưu đãi (sau khi đã trừ phần trả nợ) được cung cấp bởi các cơ quan chính thức của các nước thuộc ủy ban phát triển OECD một số quốc gia và tổ chức đa phương khác như ngân hàng thế giới vơi mục đích phát triển. Viện trợ quân sự không được tính vào khái niệm này. Hình thức cung cấp ODA chủ yếu là ODA không hoàn lai và ODA vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại ít nhất 25%.
SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung Phương thức cung cấp ODA bao gồm: Hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ chương trình và hỗ trợ theo dự án. Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là một nguồn vốn phát triển quan trọng đối với các nước đang phát triển để tăng cường quản lý kinh tế, phúc lợi xã hội, tái thiết, xây dung đất nước và phát triển kinh tế, hỗ trợ cán cân thanh toán, xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội. Đặc điểm của ODA Thứ nhất, Vốn ODA là nguồn vốn có tính ưu đãi của các nước phát triển, các tổ chức quốc tế đối với các nước đang và chậm phát triển.
Với mục tiêu trợ giúp các nước đang và chậm phát triển, vốn ODA mang tính ưu đãi hơn bất cứ nguồn tài trợ nào khác. Được thể hiện như sau: - Ưu đãi về lãi suất: lãi suất phải trả thấp hơn lãi suất thị trường, phổ biến dưới 3%. Nhiều khoản từ 0,25%/năm – 1%/năm, thậm chí không phải trả lãi. Ví dụ lãi suất của ADB là 1%/năm; của WB là 0,75% /năm; Nhật thì tuỳ theo từng dự án cụ thể trong năm tài khoá.
Ví dụ từ năm 1997-2000 thì lãi suất là 1,8%/năm. - Ưu đãi về thời hạn vay: Vốn ODA thường có thời hạn vay dài, thường từ 10 – 30 năm, thậm chí có thể 40 – 50 năm. - Ưu đãi về thời hạn trả nợ: các khoản vay từ nguồn vốn ODA đều có thời gian ân hạn (chưa phải trả nợ gốc) tương đối dài từ 3 – 10 năm. Hết thời gian ân hạn khoản vay sẽ được trả đần theo điều kiện trả nợ của bên cho vay đã được ghi trong hợp đồng vay.
- Khối lượng vốn vay lớn từ hàng chục đến hàng trăm triệu USD. - Thông thường vốn ODA có một phần viện trợ không hoàn lại, phần viện trợ không hoàn lại này lớn hơn 25% tổng số vốn vay. SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung - Những ưu đãi khác: các Chính phủ còn có thể hưởng các ưu đãi khác như: không phải cần cố, thế chấp tài sản, có thể được xem xét hoãn nợ, giảm nợ, thậm chí có thể xóa nợ khi không có điều kiện trả đúng hạn.
Nhìn chung, các nước cung cấp vốn ODA đều có những chính sách và ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật và tư vấn (về công nghệ, kinh nghiệm quản lý). Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp vốn ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể. Thứ hai, vốn ODA thường kèm theo các điều kiện ràng buộc nhất định: Tuỳ theo khối lượng vốn ODA và loại hình viện trợ mà vốn ODA có thể kèm theo những điều kiện ràng buộc nhất định. Những điều kiện ràng buộc này có thể là ràng buộc một phần và cũng có thể là ràng buộc toàn bộ về kinh tế, xã hội và thậm chí cả ràng buộc về chính trị.
Thông thường, các ràng buộc kèm theo thường là các điều kiện về mua sắm, cung cấp thiết bị, hàng hoá và dịch vụ của nước tài trợ đối với nước nhận tài trợ. Ví dụ, Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hóa và dịch vụ của nước mình… Canada yêu cầu cao nhất, tới 65%. Thụy Sĩ chỉ yêu cầu 1,7%, Hà Lan 2,2%, hai nước này được coi là những nước có tỷ lệ ODA yêu cầu phải mua hàng hóa và dịch vụ của Nhà tài trợ thấp. Nhìn chung, 22% viện trợ của DAC phải được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia viện trợ.
Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích của nước viện trợ. Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi ích cho mình, vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ. Thứ ba, ODA là nguồn vốn có khả năng để lại gánh năng nợ cho chính phủ: SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung Khi tiếp nhận và sử dụng vốn ODA, do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ nần thường chưa xuất hiện.
Một số nước do sử dụng chưa hiệu quả ODA trong ngắn hạn có thể tại nên tăng trươngt nhấ thời nhưng sau một thời gian dài thì lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ, nguyên nhân chính là do vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, các nước nhận ODA phải sử dụng sao cho có hiệu quả, tránh lâm vào tình trạng không có khả năng trả nợ. Do đó khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các nguồn vốn để tăng cường sứa mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu. Vai trò của ODA đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
- ODA là nguồn bổ sung vốn quan trọng cho đầu tư phát triển. Hiện nay, nguồn vốn mà Việt Nam cần cho tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội là rất lớn mà nếu chỉ huy động trong nước thì không thể đáp ứng được. Do đó, ODA trở thành nguồn vốn từ bên ngoài quan trọng để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển. Với lãi suất thấp,thời hạn cho vay dài và các khoản vốn vay ODA đều có thời gian ân hạn từ 3 – 10 năm đây là điều kiện thuận lơi cho nước tiếp nhận vốn đầu tư phát triển kinh tế.
- ODA giúp cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực. Thông qua các dự án ODA các nhà tài trợ có những hoạt động nhằm giúp Việt Nam nâng cao trình độ khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực như: cung cấp các tài liệu kỹ thuật, tổ chức các buổi hội thảo với sự tham gia của những chuyên gia nước ngoài, cử các cán bộ Việt Nam đi học ở nước ngoài, tổ chức các chương trình tham quan học tập kinh nghiệm ở những nước phát triển, cử trực tiếp chuyên gia sang Việt Nam hỗ trợ dự án và trực tiếp cung cấp những SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung thiết bị kỹ thuật, dây chuyền công nghệ hiện đại cho các chương trình, dự án.