phần mở đầu, kết luận và các nội dung phụ lục, tài liệu tham khảo. Nội dung chính nghiên cứu của luận văn bao gồm 3 chương: 4 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào địa phương. Chƣơng 2: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Thanh Hóa. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Thanh Hóa.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động quan trọng trong phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Hiện nay, đứng trên nhiều góc độ khác nhau sẽ có những khái niệm khác nhau về đầu tư.
Xét trên góc độ kinh tế đầu tư thì FDI là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn đầu tư và người sử dụng vốn đầu tư là một chủ thể nước ngoài. Có nghĩa là các doanh nghiệp, cá nhân người nước ngoài (các chủ đầu tư) trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư và vận hành các kết qủa đầu tư nhằm thu hồi vốn bỏ ra và có lãi [6]. Giáo trình kinh tế quốc tế nêu khái niệm FDI là hoạt động đầu tư quốc tế trong đó chủ sở hữu vốn đồng thời là người sử dụng vốn, lợi nhuận có được từ kết quả sản xuất – kinh doanh [4]. Thực chất, FDI là loại hình đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng hoặc mua phần lớn, thậm chí toàn bộ các cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước ngoài để trực tiếp điều hành, quản lý và thu lợi nhuận.
Tổ chức thương mại thế giới định nghĩa FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.
Như vậy có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về FDI. Theo tác giả, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động mà cá nhân, tổ chức nước ngoài đem vốn sang nước khác tiến hành hoạt động đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận”. Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài Chủ đầu tư vốn FDI là chủ sở hữu vốn, trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng vốn, có nghĩa vụ và quyền lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh tương ứng với phần vốn góp đó. Do đó, vốn FDI không để lại gánh nặng nợ cho nước nhận đầu tư.
Tuy nhiên, FDI là hình thức xuất khẩu tư bản nhằm thu lại lợi nhuận cao của các nhà đầu tư nước ngoài, nên có thể gây ra những tổn thất, ảnh hưởng tiêu cực đến nước tiếp nhận đầu tư. - Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tuỳ theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Luật các nước thường quy định không giống nhau về vấn đề này. Luật Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%, Pháp và Anh là 20%,.
Luật Đầu tư của Việt Nam không có quy định về vốn góp tối thiểu. Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh hay hợp đồng - hợp tác - kinh doanh theo tỷ lệ góp vốn của mình và quy định của nước sở tại. - Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỷ lệ này. Theo Luật doanh nghiệp của Việt Nam, trong doanh nghiệp liên doanh, các bên chỉ định người của mình tham gia vào Hội đồng quản trị theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp vào vốn pháp định của liên doanh.
Trong các trường hợp đặc biệt, quyền lợi và nghĩa vụ các bên không phân chia theo tỷ lệ vốn góp và điều này được ghi rõ trong điều lệ doanh nghiệp, nó phụ thuộc vào ý chí của các chủ đầu tư. - Thu nhập mà chủ đầu tư có được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức. 7 - Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình, do đó sẽ tự đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ.
Vì thế, hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế nước nhận đầu tư. - FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư. Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kĩ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý [4]. Vai trò và tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.
Đối với địa phương nhận đầu tư - Bổ sung nguồn vốn cho sự phát triển ở trong nước thông qua quá trình chuyển giao vốn: Nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế bao gồm: nguồn vốn trong nước và vốn nước ngoài; song đối với các nước đang phát triển, sản xuất còn ở trình độ thấp, nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ còn hạn hẹp thì vốn ĐTNN đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế. Ở những nước này thường có nhiều tiềm năng về lao động, tài nguyên thiên nhiên nhưng do thiếu vốn và công nghệ lạc hậu nên chưa có điều kiện để khai thác các tiềm năng ấy. Cú hích để các nước này thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo bằng cách tăng cường đầu tư phát triển sản xuất, tạo ra mức tăng trưởng kinh tế cao và ổn định. Để thực hiện được việc này, đòi phải có nhiều vốn đầu tư; trong đó vốn FDI có vai trò hết sức quan trọng, thực sự là cú hích cho các quốc gia đang phát triển, bứt phá về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Vốn FDI giữ vai trò quan trọng vì nó có nhiều ưu điểm nổi trội hơn các nguồn vốn ĐTNN khác. Cụ thể là: + FDI là nguồn vốn đầu tư dài hạn, tồn tại chủ yếu dưới hình thức công nghệ, đất đai, nhà xưởng,. nên có độ ổn định cao hơn rất nhiều so với đầu tư chứng khoán nước ngoài, vì vậy FDI ít khả năng gây sốc cho nền kinh tế. 8 + FDI chủ yếu là vốn đầu tư tư nhân, các chủ đầu tư tự tiến hành hoạt động đầu tư và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động vì vậy hiệu quả sử dụng nguồn vốn này (đặc biệt là hiệu quả tài chính) thường cao hơn các nguồn vốn khác, đồng thời FDI không để lại gánh nặng nợ nần cho ngân sách nước nhận đầu tư như vay thương mại, cũng không gây ra các sức ép về kinh tế, chính trị, xã hội như ODA.
+ Đi kèm với nguồn vốn này thường có công nghệ chảy vào các nước nhận đầu tư, đây cũng là một yếu tố mà các nước đang và kém phát triển đang thiếu và rất cần cho quá trình phát triển của mình [4]. Ngoài việc bổ sung một lượng vốn đáng kể cho đầu tư phát triển kinh tế, vốn FDI còn có ý nghĩa đặc biệt đối với nước nhận đầu tư, đó là: tạo điều kiện Nhà nước tập trung đầu tư vào các vấn đề kinh tế xã hội ưu tiên (cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi xã hội,. Các doanh nghiệp có vốn FDI tạo ra các liên kết với các công ty trong nước nhận đầu tư thông qua các mối quan hệ cung cấp dịch vụ, nguyên vật liệu, gia công. Qua đó FDI thúc đẩy đầu tư trong nước phát triển, gắn kết các công ty trong nước với thị trường thế giới.
Nhờ vậy, các tiềm năng trong nước được khai thác với hiệu quả cao. - Thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế ở những nước nhận FDI: Đối với một số nền kinh tế vốn trì trệ, thể chế kinh tế không thuận lợi cho kinh doanh, sự xuất hiện của khu vực FDI sẽ góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế theo hướng tiến bộ. Sự cạnh tranh của khu vực FDI sẽ thúc ép các đối thủ phải quan tâm tới việc đầu tư đổi mới công nghệ, phương thức quản lý để vươn lên đứng vững trên thị trường, từ đó năng suất sản xuất được cải thiện. Những cách thức quản lý, kinh doanh của nền kinh tế thị trường hiện đại được du nhập qua kênh FDI là rất có ý nghĩa trong thực tế [6].
- Đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ từ những nước phát triển (nước chủ đầu tư) sang các nước kém phát triển hơn (nước nhận đầu tư). 9 Khi đầu tư vào một nước, quốc gia, vùng lãnh thổ nào đó, chủ đầu tư không chỉ chuyển vào nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn bằng hiện vật như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu. (còn gọi là công nghệ cứng) và cả vốn vô hình như chuyên gia kỹ thuật, công nghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị trường. Thông qua hoạt động FDI, quá trình chuyển giao công nghệ được thực hiện tương đối nhanh chóng và thuận tiện cho cả bên đầu tư cũng như bên nhận đầu tư.
Với các nước đang phát triển, tận dụng những thành tựu KHCN tiên tiến của nước ngoài thông qua chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang thực hiện đầu tư trên lãnh thổ là rất quan trọng. - Tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực FDI giúp các nước đang phát triển tận dụng được lợi thế về nguồn lao động dồi dào. Ở nhiều nước, khu vực có vốn FDI tạo ra số lượng lớn việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó, FDI còn góp phần vào việc đào tạo, nâng cao trình độ cho người lao động.