Chương 1: Cơ sở lý luâ ̣n về Quản tri ̣rủi ro nhâ ̣p khẩ u Chương 2: Thực tra ̣ng Quản trị rủi ro nhập khẩu tại Công ty TNHH Cúp Vàng Chương 3: Đề xuấ t các Giải pháp tăng cường Q uản trị rủi ro nhập khẩu tại công ty TNHH Cúp Vàng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO NHẬP KHẨU 1. Khái luận về rủi ro và rủi ro nhập khẩu 1. Khái niệm rủi ro và rủi ro nhập khẩu 1.
Khái niệm rủi ro Rủi ro là một thuật ngữ có nhiều khái niệm. Rủi ro là một sự kiện không mong đợi gắn liền với cuộc sống của con người. Các cách tiếp cận khái niệm rủi ro cũng khác nhau và đa dạng. Willett cho rằng “rủi ro là sự không chắc chắn cụ thể liên quan đến một biến cố không mong đợi”.
Theo cách tiếp cận này, những biến cố không mong đợi chính là rủi ro. John Haynes đã chỉ ra “rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất”. Cách tiếp cận của ông liên quan đến việc gây ra tổn thất, tình huống nào xảy ra tổn thất chính là rủi ro. Trong lý thuyết kinh tế thị trường, rủi ro luôn gắn liền với quá trình đầu tư và quá trình phát triển.
Trong từ điển bảo hiểm Pháp Việt của nhà xuất bản Thống kê năm 1996 có viết “rủi ro là sự cố không chắc chắn xảy ra” còn từ điển kinh tế của Nhà xuất bản giáo dục cho rằng “rủi ro là tình trạng trong đó số sự kiện có thể xảy ra trong tương lai vượt quá số sự kiện thực tế xảy ra và một mức xác suất nào đó có thể được gắn liền cho các sự kiện đó” Qua các khái niệm trên có thể khẳng định rằng rủi ro là yếu tố tất yếu xảy ra trong cuộc sống, trong kinh doanh. Trên cơ sở phân tích và tìm hiểu có thể trích dẫn khái niệm về rủi ro như sau: “Rủi ro là những tai nạn, tai họa hoặc sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên hoặc những mối đe dọa khi xảy ra sẽ gây ra tổn thất cho đối tượng” [2, tr.175] Khi rủi ro xảy ra thì gây ra những tổn thất ngoài dự kiến của con người, dẫn tới sự sai lệch so với mục tiêu và dự kiến ban đầu. Tổn thất có thể tồn tại ở dạng hữu hình và vô hình, tổn thất bộ phận và tổn thất toàn phần, có thể là những tổn thất 8 về vật chất hoặc tinh thần, cơ hội kinh doanh. Sai lệch giữa các kết quả có thể có càng cao thì rủi ro càng lớn Để phòng ngừa rủi ro, con người có thể vận dụng một cách linh hoạt các công cụ hỗ trợ tham gia vào quá trình quản trị rủi ro nhập khẩu để có những quyết định hợp lý và chính xác trong kinh doanh.
Khái niệm rủi ro nhập khẩu - Khái niệm nhập khẩu Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là việc mua bán và trao đổi hàng hoá dịch vụ của nước này với nước khác, trong giao dịch dùng ngoại tệ của một nước hay một ngoại tệ mạnh trên thế giới để trao đổi. Nhập khẩu của doanh nghiệp là hoạt động mua hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài phục vụ cho nhu cầu trong nước mà trong nước không sản xuất được. sản xuất không đáp ứng được nhu cầu của thị trường nội địa hoặc tái xuất nhằm phục vụ mục đích thu lợi nhuận. Nếu xét trên phạm vi hẹp thì tại Điều 2 Thông tư số 04/TM-ĐT ngày 30/7/1993 của Bộ Thương mại định nghĩa: “Kinh doanh nhập khẩu thiết bị là toàn bộ quá trình giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán thiết bị và dịch vụ có liên quan đến thiết bị trong quan hệ bạn hàng với nước ngoài ”.
Mục tiêu hoạt động nhập khẩu là sử dụng có hiệu quả nguồn ngoại tệ để nhập khẩu vật tư, thiết bị kỹ thuật và dịch vụ phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng, nâng cao năng suất lao động, tăng giá trị ngày công, và giải quyết sự khan hiếm hàng hoá, vật tư trên thị trường nội địa. Nhập khẩu góp phần nhằm làm đa dạng hóa sản phẩm của thị trường nội địa, làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa trong và ngoài nước. - Khái niệm rủi ro nhập khẩu: Rủi ro nhập khẩu là những tai nạn, tai họa hoặc sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên hoặc những mối đe dọa khi xảy ra sẽ gây tổn thất cho đối tượng trong quá trình thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hóa trên phạm vi quốc tế, do sự 9 biến động của môi trường bên ngoài, sự kiện bất khả kháng hoặc do quan hệ giữa các bên tham gia vào thực hiện hoạt động nhập khẩu (Người xuất khẩu, người nhập khẩu, ngân hàng, người vận chuyển,…) Như vậy khái niệm rủi ro nhập khẩu là một khái niệm “động”, nghĩa là có nhiều mức độ khác nhau. Chỉ một trong các rủi ro hoặc tập hợp các rủi ro ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp.
Có thể chỉ là thiệt hại nhỏ nhưng có thể là thiệt hại rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của doanh nghiệp. Phân biệt nguy cơ rủi ro, rủi ro và tổn thất trong nhập khẩu - Nguy cơ rủi ro trong nhập khẩu: Nguyên nhân trực tiếp, tác nhân có thể gây ra hoặc làm tăng khả năng xảy ra rủi ro nhập khẩu. Nguy cơ rủi ro trong nhập khầu có thể có hoặc không dẫn đến rủi ro nhập khẩu. - Rủi ro nhập khẩu là những tai nạn, tai họa hoặc sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên hoặc những mối đe dọa khi xảy ra sẽ gây tổn thất cho đối tượng.
Rủi ro nhập khẩu có thể hoặc không thể xảy ra và không lường trước được. Rủi ro nhập khẩu là sự không chắc chắn về khả năng xảy ra một biến cố không mong đợi mang đến tổn thất. - Tổn thất trong nhập khẩu: Tổn thất trong nhập khẩu là những thiệt hại, hư hỏng, mất mát do rủi ro nhập khẩu gây ra cho doanh nghiệp. Tổn thất trong nhập khẩu là biểu hiện của việc chắc chắn rủi ro nhập khẩu đã xảy ra và gây một thiệt hại nhất định cho doanh nghiệp nhập khẩu.
Hay nói cách khác tổn thất trong nhập khẩu là kết quả của việc xảy ra rủi ro nhập khẩu. Ví dụ: Do tỷ giá hối đoái tăng, doanh nghiệp nhập khẩu có thể bị mất thêm 5 triệu VNĐ cho việc chuyển tiền đi nước ngoài của hợp đồng mua băng đồng vào tháng 03. - Tỷ giá hối đoái tăng: Nguy cơ rủi ro trong nhập khẩu. Doanh nghiệp có thể gặp rủi ro nhập khẩu hay không tuy thuộc vào khả năng quản trị rủi ro nhập khẩu của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp bị mất thêm tiền: Rủi ro nhập khẩu. Đây là sự cố không chắc chắn có thể xảy ra. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp không có biện pháp phòng ngừa, 10 rủi ro có thể xảy ra. Và ngược lại, rủi ro có thể không xảy ra nếu doanh nghiệp có biện pháp phòng ngừa.
- Tổn thất: 5 triệu đồng. Khi doanh nghiệp chịu tổn thất tức là rủi ro bị mất thêm tiền do tỷ giá hối đoái tăng đã xảy ra. Phân loại rủi ro nhập khẩu Rủi ro nhập khẩu có thể có thể đo lường, dự đoán được nhưng cũng có thể không đo lường và tiên lượng một cách chắc chắn. Mỗi rủi ro phát sinh có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân khác nhau.
Việc phân loại rủi ro nhập khẩu chỉ mang tính chất tương đối, không thể tuyệt đối. Trong phạm vi đề tài này sẽ tập trung theo hướng phân loại rủi ro nhập khẩu theo nguồn gốc sinh ra rủi ro (nguy cơ rủi ro nhập khẩu): - Rủi ro nhập khẩu từ môi trường kinh tế-tài chính Những rủi ro nhập khẩu nảy sinh do những thay đổi từ môi trường kinh tế, tài chính trong nước cũng như quốc tế như: Suy thoái, khủng hoảng kinh tế, suy biến động lãi suất, thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất, biến động giá cả hàng hóa (lạm phát),.Trong các rủi ro nhập khẩu về kinh tế, tài chính, một số rủi ro nhập khẩu hay gặp phải và tác động trực tiếp tới doanh nghiệp nhập khẩu bao gồm: Rủi ro nhập khẩu do lãi suất, rủi ro nhập khẩu do tỷ giá hối đoái, rủi ro nhập khẩu về giá cả hàng hoá (lạm phát) + Rủi ro nhập khẩu do lãi suất: Rủi ro nhập khẩu do lãi suất trong nhập khẩu thường xảy ra khi doanh nghiệp phải sử dụng nguồn tài trợ như vay vốn bên ngoài để phục vụ cho hoạt động nhâp khẩu. Sự biến động, thay đổi về lãi suất vay vốn sẽ khiến cho doanh nghiệp nhập khẩu có thể chịu rủi ro nhập khẩu khi chi phí vay vốn ngoài tầm kiểm soát. Đặc biệt nếu doanh nghiệp phải sử dụng những khoản vay tín dụng quốc tế, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn hơn trong việc nắm bắt chiều hướng biến động của lãi suất trên thị trường quốc tế.
+ Rủi ro nhập khẩu do tỷ giá hối đoái: Rủi ro nhập khẩu do tỷ giá hối đoái là rủi ro nhập khẩu liên quan đến khoản 11 chi bằng ngoại tệ khi tỷ giá thay đổi theo chiều hướng bất lợi. Hầu hết các doanh nghiệp nhập khẩu từ các nước có đồng tiền yếu đều phải chi trả những khoản mua hàng quốc tế bằng những đồng tiền mạnh. Sự dịch chuyển của dòng tiền hàng liên quan nhiều đến việc tỷ giá chuyển đổi giữa đồng tiền mạnh và đồng tiền nội địa. Trong điều kiện đó giá trị của dòng tiền di chuyển sẽ phải gánh chịu rủi ro nhập khẩu từ những bất thường của tỷ giá hối đoái.
Bên cạnh đó, xu hướng biến động các đồng tiền sử dụng chủ yếu trong kinh doanh nhập khẩu như USD, EUR, JPY lại ngày càng phổ biến. Bởi chính sách tiền tệ của các quốc gia sở hữu những đồng tiền này thường là chính sách thả nổi, không cố định giá trị. Để thực hiện một đơn hàng nhập khẩu, doanh nghiệp thường mất khá nhiều thời gian, từ việc lên kế hoạch nhập khẩu, lựa chọn đối tác tới việc đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng. Khoảng cách địa lý giữa các quốc gia sẽ khiến cho việc giao hàng mất nhiều thời gian và việc thanh toán cũng tương tự.
Chính vì vậy khoảng thời gian tiến hành một số phương thức thanh toán của doanh nghiệp có thể cách thời gian lên kế hoạch nhập khẩu có thể khá xa nhau. Trong khoảng thời gian này, giá trị của các đồng tiền đã có sự thay đổi nhất định và đương nhiên có thể ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động kinh doanh, kế hoạch của doanh nghiệp nhập khẩu.