CHƯƠNG 1: MỘ SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm rủi ro trong kinh doanh Rủi ro theo nghĩa chung nhất là điều không tốt lành, không may mắn bất ngờ xảy đến. Đây là cánh hiểu thông thường nhất, những gì được gọi là rủi ro luôn mang lại những điều mà con người không mong muốn nhất. Khi rủi ro xảy ra luôn đồng nghĩa với việc chủ thể của nó phải nhận những thiệt hại nào đó. Theo Fank Knight:” Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”.
Theo Allan Willett:” Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi”.Arthur William, Jr.Smith: “rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả. Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết các hoạt động của con người. Khi có rủi ro người ta không thể dự đoán được chính xác kết qủa. Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định.
Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước”. Theo Nguyễn Tuấn Anh (2006) trong cuốn “quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại thương” NXB Lao động xã hội: “Rủi ro là những sự kiện bất lợi, bất ngờ gây tổn thất cho con người” theo cách tiếp cận này thì rủi ro liên quan đến thái độ của con người. Những biến cố ngoài mong đợi thì được xem là rủi ro, còn những biến cố không mong đợi không phải rủi ro. Như vậy: “rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người và có thể đo lường được”.
Khái niệm rủi ro trong kinh doanh: Trong lĩnh vực kinh doanh tác giả Hồ Diệu định nghĩa “rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến - “rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp” Rủi ro trong kinh doanh được hiểu là những vận động khách quan bên ngoài chủ thể kinh doanh, gây khó khăn trở ngại cho chủ thể trong quá trình thực hiện mục tiêu, tàn phá các thành quả đang có, bắt buộc chủ thể phải chi phí nhiều hơn về SVTH: Đỗ Thị Nga Lớp: K49A2 Trường Đại học Thương mại 7 Khoa: Quản trị kinh doanh nhân lực, vật lực, thời gian trong qúa trình phát triển của mình.2 Khái niệm quản trị rủi ro 1.1 Lịch sử phát triển của quản trị rủi ro Giai đoạn 1: Từ sau thế chiến thứ 2 đến những năm 60: giai đoạn này các quốc gia khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh. Vì vậy trong giai đoạn này quản trị rủi ro đồng nghĩa với việc mua bảo hiểm. Giai đoạn 2: Từ năm 1960 đến 1990 : là giai đoạn các doanh nghiệp phát triển lớn mạnh và sáp nhập với nhau vì vậy cần phải giảm bớt rủi ro trên thị trường. Quan điểm của các nhà kinh tế là ngăn ngừa sự xuất hiện rủi ro, trong giai đoạn này quản trị rủi ro bao gồm mua bảo hiểm, tự bảo hiểm và ngăn ngừa tổn thất.
Trong giai đoạn này có sự chủ động của nhà quản trị. Giai đoạn 3là từ 1990 đến nay: Mua bảo hiểm, kiểm soát tổn thất, tài trợ rủi ro, đảm bảo lợi ích của người lao động. Quan điểm của quản trị rủi ro trong giai đoạn này: quản trị rủi ro là quá trình hoạt động có hệ thống dựa trên cơ sở nhận dạng , phân tích , đo lường , đánh giá rủi ro và giải pháp đối phó cũng như khắc phục hậu quả rủi ro.2 Khái niệm quản trị rủi ro trong kinh doanh Quản trị rủi ro là quá trình bao gồm các hoạt động nhận dạng, phân tích, đo lường, đánh giá rủi ro tìm các biện pháp kiểm soát, tài trợ khắc phục các hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp. Quản trị rủi ro là quá trình xác định các rủi ro và tìm cách quản lý, hạn chế các rủi ro đó xảy ra với tổ chức một cách tổng quát đó là quá trình xem xét toàn bộ các hoạt động của tổ chức, xác định nguy cơ tiềm ẩn và khả năng xảy ra các nguy cơ đó.
Từ đó có thể chuẩn bị các hành động thích hợp để hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất, ngoài ra nó còn giúp doanh nghiệp chủ động đương đầu và xử lý mọi tình huống rủi ro xảy ra và có thể xảy ra.3 Vai trò của quản trị rủi ro trong kinh doanh Quản trị rủi ro có vai trò quan trọng trong doanh nghiệp nó gắn liền với các hoạt động quản trị khác trong doanh nghiệp như quản trị chiến lược, quản trị sản xuất và thể hiện cụ thể như: SVTH: Đỗ Thị Nga Lớp: K49A2 Trường Đại học Thương mại 8 Khoa: Quản trị kinh doanh Thứ nhất, giúp doanh nghiệp đánh giá chính xác các rủi ro Kết quả của phân tích rủi ro có thể được sử dụng để tạo ra một hồ sơ (có thể thiết lập hệ thống về rủi ro) rủi ro, cho phép đánh giá (nội dung và lĩnh vực gì) rủi ro để có thể phát hiện sớm và kiểm soát rủi ro. Các hoạt động phân tích rủi ro hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động hiệu quả đòi hỏi sự quan tâm của Lãnh đạo doanh nghiệp. Điều này tạo thuận lợi cho kiểm soát rủi ro tiềm năng của doanh nghiệp. Sự biến động của phương pháp quản trị để thích ứng có sẵn rủi ro bao gồm: sự thao túng, xử lý, chuyển giao và chấm dứt rủi ro.
Một doanh nghiệp có thể quyết định kinh doanh chắc chắn và đó cũng là một nhu cầu để cải thiện môi trường kiểm soát. Thứ hai, giúp doanh nghiệp đối phó với rủi ro trong các hoàn cảnh nguy nan Mục tiêu ứng phó rủi ro bao gồm như là yếu tố chính của rủi ro, kiểm soát rủi ro (hoặc giảm nhẹ rủi ro), đòi hỏi phải dự đoán xa hơn. Ví dụ: việc phòng tránh rủi ro, việc chuyển giao rủi ro của công ty bằng cách phân chia rủi ro và lợi ích của công ty cho các đối tác khác và việc cuối cùng là tài trợ tài chính cho hoạt động cho rủi ro. Bất kỳ hệ thống xử lý rủi ro nào cũng cần phải xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả.
Hiệu quả của kiểm soát nội bộ là mức độ rủi ro sẽ được loại bỏ hoặc giảm rủi ro nhờ các biện pháp đề xuất kiểm soát. Hiệu quả chi phí của kiểm soát nội bộ liên quan đến chi phí thực hiện kiểm soát so với những lợi ích giảm thiểu rủi ro đạt được. Thứ ba, giúp doanh nghiệp xây dựng hệ thống thông tin phản hồi Hệ thống thông tin phản hồi để góp phần thực hiện những giám sát và đánh giá hiệu suất, truyền thông và tư vấn trên hệ thống thống tin quản trị rủi ro minh bạch và kịp thời. Công việc giám sát và xem xét nguy cơ rủi ro phải đảm bảo rằng doanh nghiệp giám sát hiệu suất rủi ro và bài học từ kinh nghiệm từ những rủi ro và tổn thất trước đây.
Hệ thống thông tin phản hồi giúp việc phản hồi thông tin liên quan đến rủi ro và kịp thời đưa ra quyết định giúp doanh nghiệp vượt qua rủi ro và hạn chế các nguy cơ trong dài hạn. Thứ tư, giúp doanh nghiệp xây dựng khuôn khổ quản lý rủi ro Tùy thuộc vào bản chất của doanh nghiệp, chức năng quản lý rủi ro có thể từ một người quản lý rủi ro một phần thời gian, một nhà quản trị rủi ro tốt nhất, một bộ phận quản lý rủi ro quy mô đầy đủ. Vai trò của chức năng kiểm toán nội bộ cũng sẽ khác nhau giữa các doanh nghiệp. Xác định vai trò thích hợp nhất đối với kiểm SVTH: Đỗ Thị Nga Lớp: K49A2 Trường Đại học Thương mại 9 Khoa: Quản trị kinh doanh toán nội bộ, doanh nghiệp cần phải đảm bảo sự độc lập và khách quan của kiểm toán nội bộ không bị chi phối.
Thứ năm, giúp doanh nghiệp tăng cường năng lực trong việc ra quyết định Việc doanh nghiệp quản trị rủi ro tốt sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà quản trị cân nhắc những yếu tố rủi ro có thể gặp phải, chuẩn bị các phương án ngăn chặn phòng ngừa từ đó đưa ra quyết định kinh doanh an toàn và hiệu quả. Bên cạnh đó cũng lên kế hoạch và sắp xếp công việc khoa học hợp lý hơn. Ngoài ra quản trị rủi ro còn giúp doanh nghiệp có thể phân bố và sử dụng hiệu quả những nguồn nhân lực trong công ty và giảm thiểu sai xót trong quá trình phân công công việc và hoạt động kinh doanh của công ty.2 Nội dung nghiên cứu của đề tài 1.1 Những rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải 1.1 Rủi ro sự cố và rủi ro cơ hội Rủi ro sự cố: Là những rủi ro gắn liền với sự cố ngẫu nhiên ngoài dự kiến khách quan và khó tránh khỏi. Rủi ro cơ hội: là những rủi ro gắn liền với quá trình ra quyết định của chủ thể.
Xét theo quá trình ra quyết định của chủ thể thì rủi ro cơ hội bao gồm: Rủi ro liên quan đến giai đoạn trước khi ra quyết định(thu thập xử lý thông tin, lựa chọn cách thức ra quyết định) và rủi ro trong quá trình ra quyết định(rủi ro phát sinh do ta chọn quyết định này mà không chọn quyết định khác). Rủi ro liên quan đến việc sau khi ra quyết định: rủi ro liên quan đến sự tương hợp giữa kết quả so với dự kiến ban đầu.2 Rủi ro phân tán và không phân tán Rủi ro có thể phân tán là rủi ro có thể giảm bới tổn thất thông qua những thỏa hiệp đóng góp và chia sẻ rủi ro của công ty với các tổ chức tín dụng hay giữa các thành viên trong liên minh. Ví dụ: Nhà quản trị quan tâm đến việc phân tán rủi ro bằng cách đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau. Rủi ro không thể phân tán là rủi ro mà những thỏa hiệp đóng góp về tiền bạc hay tài sản không có tác dụng gì đến việc giảm bớt tổn thất cho những người tham gia vào quỹ đóng góp chung.
Ví dụ: Rủi ro về việc thất nghiệp của người lao động. SVTH: Đỗ Thị Nga Lớp: K49A2 Trường Đại học Thương mại 10 Khoa: Quản trị kinh doanh 1.