phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm bốn chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 3 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Khái niệm, đặc điểm của thuế TNCN: Khái niệm thu nhập cá nhân: là tổng tiền, hàng hóa, dịch vụ mà một cá nhân nhận được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Trong thực tế, thu nhập của cá nhân được hình thành từ nhiều nguồn (tiền lương, tiền công, tiền thù lao…) và dưới nhiều hình thức khác nhau (tiền mặt, tiền chuyển khoản, hiện vật…).
Thu nhập chịu thuế của cá nhân phát sinh trong kỳ tính thuế là thu nhập mà cá nhân nhận được trong kỳ sau khi đã giảm trừ các khoản chi phí liên quan để tạo ra thu nhập, các khoản giảm trừ mang tính chất xã hội và các khoản giảm trừ khác. Thuế TNCN của Việt Nam dần được hoàn thiện theo thời gian. Từ năm 1991 đến trước năm 2009, để phù hợp hơn với tình hình thực tế, thuế TNCN ở Việt Nam được quy định dưới hình thức Thuế thu nhập với người có thu nhập cao. Từ 01/01/2009, Luật thuế TNCN chính thức có hiệu lực đánh dấu bước phát triển quan trọng của sắc thuế này.
Theo đó khái niệm thuế TNCN cũng dần được bổ sung đầy đủ hơn. Khái niệm thuế TNCN: là sắc thuế thuộc loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định thường là một năm, tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập. Đặc điểm: Thuế TNCN có những đặc điểm quan trọng sau: Một là: Thuế TNCN là một sắc thuế thuộc loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của người nộp thuế, người nộp thuế đồng nhất với người chịu thuế nên khó có thể chuyển gánh nặng thuế cho người khác. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Hai là: Thuế TNCN là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội.
Đặc điểm này xuất phát từ tính trực thu của thuế TNCN. Ba là: Thuế TNCN luôn gắn liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia mặc dù các quốc gia hiện nay vẫn luôn hướng tới một hệ thống chính sách thuế mang tính trung lập. Khi tính thuế TNCN có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế bằng việc quy định một số khoản được khấu trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế. Bốn là: Thuế TNCN thường được tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần do thuế TNCN được đánh theo nguyên tắc “khả năng nộp thuế” và cũng xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, động viên sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội.
Năm là: Thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hóa, dịch vụ. Thuế TNCN không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hóa, dịch vụ nên nó không tạo ra sự sai lệch trong giá cả hàng hóa, dịch vụ. Vai trò của thuế TNCN: Xuất phát từ những đặc điểm kể trên, thuế TNCN có vai trò quan trọng: Thứ nhất: Thuế TNCN là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp trong xã hội. Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của một quốc gia.
Mặc dù quan điểm hoàn thiện chính sách thuế là cần phải xây dựng một chính sách thuế trung lập, không nhằm nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng trong thực tế chưa có quốc gia nào tách rời hẳn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội. Sự công bằng thể hiện ở biểu thuế lũy tiến từng phần, mức điều tiết về thuế tăng dần đều, người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều. Chính sách xã hội thể hiện thông qua cơ chế chiết trừ gia cảnh và một số khoản giảm trừ trước khi tính thuế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Thứ hai: Thuế TNCN là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định cho NSNN.
Thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, khả năng tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước cao, nhất là ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển. Bên cạnh đó, Thuế TNCN có độ co giãn theo thu nhập tương đối lớn nên cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng không ngừng tăng lên, nếu có chính sách động viên hợp lý, ổn định thì không cần phải thường xuyên thay đổi mà vẫn thu được một mức thu mong muốn. Thứ ba: Thuế TNCN là một công cụ kinh tế vĩ mô được Nhà nước sử dụng điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm. Thuế TNCN không chỉ là công cụ huy động nguồn thu Ngân sách Nhà nước, thực hiện công bằng xã hội, mà còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua mức thuế TNCN và chế độ miễn giảm thuế có thể khuyến khích đầu tư, tiết kiệm.
Thứ tư: Thuế TNCN góp phần quản lý thu nhập dân cư. Thông qua việc kiểm tra, xác minh thu nhập tính thuế TNCN, cơ quan Nhà nước có thể phát hiện những khoản thu nhập hợp pháp, không hợp pháp để có những biện pháp xử lý phù hợp. Qua tài liệu, số liệu về thuế TNCN giúp cho chính phủ có thêm cơ sở để đánh giá khái quát về tình hình thu nhập xã hội, về cơ cấu thu nhập dân cư để đề ra các chính sách kinh tế – xã hội phù hợp. Thực tiễn của Luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành ở Việt Nam: Việc ban hành chính sách thuế thu nhập cá nhân được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản như sau: Việc xây dựng các văn bản pháp luật và chính sách thuế cần đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng và chặt chẽ.
Vì loại thuế thu nhập cá nhân khá phức tạp nên nguyên tắc này cần được đảm bảo để hạn chế hành vi trốn thuế của các đối tượng nộp thuế. Quy định trong chính sách thuế thu nhập cá nhân phải đảm bảo được yêu cầu đặt ra trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và đảm bảo tính công bằng đối với Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 cả người nộp thuế và xã hội. Quy định trong chính sách thuế thu nhập cá nhân cũng cần đảm bảo tính công bằng đối với người nộp thuế và xã hội. Thuế thu nhập cá nhân đóng vai trò phân phối lại thu nhập trong xã hội, giảm bớt sự cách biệt quá lớn về mức sống giữa các cá nhân trong xã hội nhưng cũng cần động viên sự phấn đấu làm việc của người lao động.
Các quy định phải đảm bảo cho thu nhập thực tế sau khi nộp thuế của các đối tượng nộp thuế tương xứng với công sức lao động và sự đóng góp của họ. Các văn bản quy định về thuế TNCN ở Việt Nam hiện hành bao gồm: 1. Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007. Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuê thu nhập cá nhân.
Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008. Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/9/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 5. Thông tư số 02/2010/TT-BTC ngày 11/01/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 6. Thông tư số 20/2010/TT-BTC ngày 05/2/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số thủ tục hành chính về Thuế TNCN 7.
Thông tư số 42/2009/TT-BTC ngày 09/3/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn khấu trừ thuế TNCN đối với cá nhân làm đại lý xổ số và khấu trừ thuế TNCN đối với cá nhân có thu nhập từ trúng thưởng xổ số. Thông tư số 10/2009/TT-BTC ngày 21/01/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn đăng ký thuế, khai thuế và quyết toán thuế TNCN đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm. Thông tư số 176/2009/TT-BTC ngày 09/09/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc giảm thuế TNCN đối với cá nhân làm việc tại khu kinh tế. Thông tư số 111/2003 ngày 15/8/2003 của Bộ Tài chính.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 Nội dung cơ bản của chính sách thuế TNCN bao gồm: 1. Đối tƣợng nộp thuế: Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế. Cá nhân cư trú là người có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam hoặc là người có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam (có nơi ở đăng ký thường trú theo qui định của pháp luật về cư trú; có nhà cho thuê để ở tại Việt Nam theo qui định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên trong năm tính thuế). Thu nhập chịu thuế: Thu nhập chịu thuế của cá nhân gồm các loại thu nhập sau đây: 1.
Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Thu nhập từ tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động. Thu nhập từ đầu tư vốn.Thu nhập từ chuyển nhượng vốn. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản.
Thu nhập chịu thuế khác: bao gồm thu nhập từ trúng thưởng bằng tiền hoặc hiện vật, thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ nhượng quyền thương mại theo qui định của Luật thương mại, thu nhập từ thừa kế, thu nhập từ nhận quà tặng. Thu nhập đƣợc miễn thuế: Các khoản thu nhập mà cá nhân được miễn thuế thu nhập cá nhân gồm: 1.