phần mở đầu, kết luận, được kết cấu thành 4 chương : Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn huyện Tam Đảo - tỉnh Vĩnh Phúc; Chƣơng 2. Phương pháp nghiên cứu; Chƣơng 3. Thực trạng công tác quản lý thuế tncn trên địa bàn huyện tam đảo, tỉnh Vĩnh Phúc; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 6 Chƣơng 4.
Giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn huyện Tam Đảo. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TAM ĐẢO - TỈNH VĨNH PHÚC 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về thuế Thu nhập cá nhân 1. Khái quát về thuế Thu nhập cá nhân 1.
Một số khái niệm Thuế TNCN Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của từng cá nhân có thu nhập cao, bao gồm: tiền lương, tiền công và các khoản thu nhập khác. Mục tiêu của loại thuế này là điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối thu nhập. Để thực hiện điều này, rất nhiều nước đã áp dụng thuế suất tương đối luỹ tiến vì áp dụng thuế suất tương đối cố định như những loại thuế khác. Ở nước ta thuế thu nhập cá nhân được ban hành vào ngày 27.1990 bằng Pháp lệnh “ thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao” do chủ tịch nước ký lệnh công bố.
Từ đó đến nay, thuế thu nhập cá nhân đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung. Thuế thu nhập cá nhân là một bộ phận trong hệ thống thuế, thuế vừa mang vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác không có được. Theo Giáo trình Thuế của Học viện Tài chính thì “Thuế thu nhập cá nhân là thuế đánh vào thu nhập chịu thuế của cá nhân phát sinh trong kỳ tính thuế ” Thuế TNCN là một loại thuế trực thu vì nó đánh trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, cá nhân khó có thể chuyển gánh nặng thuế được sang cho chủ thể khác. Thu nhập chịu thuế của các nhân phát sinh trong kỳ tính thuế là thu nhập mà cá nhân nhận được sau khi đã giảm trừ các khoản chi phí liên quan để tạo ra thu nhập, các khoản giảm trừ mang tính chất xã hội và các khoản giảm trừ khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 8 Thuế TNCN là loại thuế trực thu, đánh vào phần thu nhập nhận được của cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập. Thuế TNCN thường được tính theo biểu luỹ tiến từng phần do xuất phát từ vai trò của thuế TNCN là điều tiết thu nhập của người có thu nhập cao, động viên sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội thuế TNCN được đánh giá trên nguyên tắc lợi ích công bằng và khả năng nộp thuế Thuế TNCN không bóp mép giá cả hàng hoá, dịch vụ, thuế TNCN không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hoá dịch vụ nên nó không tạo ra sự sai lệch giá cả hàng hoá dịch vụ Ngày 21/11/2007, Quốc hội ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, thay thế cho Thuế thu nhập với người có thu nhập cao trước đây. Luật thuế TNCN mới quy định người nộp thuế là cá nhân người Việt Nam, người nước ngoài có thu nhập chịu thuế bao gồm cả cá nhân tự kinh doanh và chủ hộ gia đình hoặc người đại diện hộ gia đình. Việc chuyển cá nhân, hộ kinh doanh hiện đang nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và mở rộng thêm các đối tượng có thu nhập từ đầu tư vốn và tài sản vào nộp thuế thu nhập cá nhân sẽ đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của cá nhân và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Ưu điểm của thuế TNCN là động viên trực tiếp vào thu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhập, hơn thế nữa, còn cho phép xem xét đến các yếu tố tương đối độc lập đến thu nhập của NNT, như hoàn cảnh bản thân, hoàn cảnh gia đình. Do đó, thuế TNCN có tác dụng rất lớn trong việc điều hòa thu nhập, giảm bớt sự chênh lệch đáng kể về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, do đó đã bảo đảm được tính công bằng trong xã hội. Nhược điểm của thuế TNCN là dễ gây ra phản ứng từ phía NNT khi Nhà nước điều chỉnh tăng thuế. Hơn nữa, việc theo dõi, tính toán số thuế phải nộp và thủ tục thu, nộp thuế hết sức phức tạp.
Số thu động viên vào NSNN Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 9 thường chậm và chi phí quản lý thu thuế khá tốn kém. Đặc điểm thuế Thu nhập cá nhân Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo Luật định. Phân phối khoản thu nhập qua thuế thu nhập cá nhân gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước Thuế TNCN là khoản đóng góp không hoàn trả cho người nộp. Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp.
Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Hầu hết các quốc gia đền gắn chính sách thuế thu nhập cá nhân với một số chính sách xã hội khác ( như phúc lợi, công cộng, chăm sóc sức khoẻ…) Thuế TNCN là thuế trực thu. Do vậy, người nộp thuế cũng là người chịu thuế. Thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu phát sinh trong hay ngoài nước Việc đánh thuế cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất luỹ tiến.
Đắc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội 1. Vai trò của Thuế thu nhập cá nhân 1. Đối với nền kinh tế xã hội + Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước: thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Thuế thu nhập cá nhân được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn.
Bên cạnh đó, thuế thu nhập cá nhân tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư mà người dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 10 cao để nâng cao đời sống vật chất tinh thần. Thuế thu nhập cá nhân luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người. + Góp phần thực hiện công bằng xã hội: thực hiện công bằng xã hội là một trong những vai trò quan trọng của thuế nói chung. Ngoài ra với thuế thu nhập cá nhân cùng với việc thực hiện biểu luỹ tiến từng phần, thuế thu nhập cá nhân đã thực hiện được việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng trong xã hội.
+ Điều tiết tiêu dùng và tiết kiệm: thuế thu nhâp cá nhân cũng có tác dụng điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Loại thuế này điều tiết trực tiếp thu nhập cá nhân nên một mặt tác động trực tiếp đến tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán cuả các cá nhân bị giảm. Từ đó cầu hàng hoá, dịch vụ sẽ giảm làm tác động đến sản xuất. + Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp: thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân được từ việc thực hiện các hành vi hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những khe hở của pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối lộ, buôn bán hàng quốc cấm 1.
Đối với hệ thống thuế * Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế TNCN, giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau. Thuế TNCN còn góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân. Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế TNCN Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 11 đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó. Thu nhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế TNCN và thuế thu nhập doanh nghiệp.
* Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế Xây dựng và phát triển, hoàn thiện chính sách thuế TNCN là góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập với kinh tế thế giới. Việc ban hành Luật thuế TNCN là bước thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng về lĩnh vực tài chính tiền tệ, đồng thời là bước đi phù hợp lộ trình cải cách thuế theo mục tiêu, chiến lược mà Chính phủ đã hoạch định. Tóm lại, thuế TNCN đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước. Thực hiện phát triển chính sách thuế trực thu nói chung, thuế TNCN nói riêng, chính là việc tạo lập và phát triển nguồn thu vững chắc cho NSNN.
Cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, hội nhập và phát triển, thu nhập quốc dân đầu người ngày càng lớn thì khả năng huy động nguồn thu cho NSNN thông qua thuế TNCN sẽ ngày càng tăng và sẽ ngày một dồi dào. Tuy nhiên, vì công tác quản lý thuế TNCN còn nhiều hạn chế nên những vai trò này vẫn chưa thực sự phát huy ở những nước chậm phát triển, trong đó có Việt Nam. Một số vấn đề cơ bản về quản lý thuế TNCN 1. Khái niệm, đặc điểm quản lý thuế TNCN 1.