Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1. Cơ sở lý luận về doanh nghiệp nông nghiệp a. Khái niệm doanh nghiệp nông nghiệp Theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 thì: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.” Căn cứ theo ngành nghề hoạt động thì chúng ta có thể chia thành: doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp dịch vụ.
Người ta còn có thể chia nhỏ mỗi loại doanh nghiệp nói trên thành các loại doanh nghiệp, ví dụ trong doanh nghiệp nông nghiệp có doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, doanh nghiệp lâm nghiệp, doanh nghiệp ngư nghiệp hoặc là doanh nghiệp trồng trọt, doanh nghiệp chăn nuôi. Nông nghiệp là một ngành kinh tế quốc dân, sản xuất thực phẩm cho nhân dân và nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản. Doanh nghiệp nông nghiệp là tổ chức kinh tế tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp, tham gia vào toàn bộ thị trường đầu vào và đầu ra, được tổ chức và hoạt động phù hợp với Luật doanh nghiệp.
Có thể chia thành: công ty cổ phần, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên…. Bản chất và đặc điểm của doanh nghiệp nông nghiệp Doanh nghiệp nông nghiệp là những doanh nghiệp chủ yếu tiến hành sản xuất và kinh doanh trên địa bàn nông thôn, được hình thành từ các hộ kinh doanh, các hợp tác xã và trang trại. Các doanh nghiệp nông nghiệp tham gia vào kinh doanh các sản phẩm phục vụ cho nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Hiện nay các doanh nghiệp nông nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp e 5 vừa và nhỏ.
So với các doanh nghiệp công nghiệp và doanh nghiệp ở thành thị kinh doanh cùng loại sản phẩm và dịch vụ, doanh nghiệp nông nghiệp có chi phí khởi tạo doanh nghiệp và kinh doanh cao hơn. Tư liệu sản xuất chủ yếu của doanh nghiệp nông nghiệp là ruộng đất. Mọi doanh nghiệp để hoạt động được đều phải sử dụng các nguồn lực đầu vào là các yếu tố sản xuất và tư liệu sản xuất. Đối với doanh nghiệp nông nghiệp bộ phận nguồn lực không thể thiếu được và có vai trò hết sức quan trọng là tài nguyên thiên nhiên.
Trước hết đó là tài nguyên đất và nước cho sản xuất NN; tiếp đến là tài nguyên sinh vật cụ thể (cây, con cụ thể), không có đất thì không thể trồng cây hoặc chăn nuôi với quy mô lớn được. Nếu các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp và dịch vụ chỉ cần diện tích không nhiều để có mặt bằng sản xuất thì diện tích sản xuất của doanh nghiệp nông nghiệp là tương đối lớn. Phần diện tích đất doanh nghiệp nông nghiệp sử dụng để phụ vụ sản xuất là mặt đất, mặt nước, bao gồm những cánh đồng, rừng, ao hồ. Tóm lại nếu không có đất thì không thể sản xuất nông nghiệp.
Đối tượng sản xuất của doanh nghiệp nông nghiệp là các cây trồng và vật nuôi. Cây trồng và vật nuôi là tư liệu chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho ngành nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ: đây là đặc điểm điển hình của sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng trọt. Thời gian sinh trưởng và phát triển của cây trồng vật nuôi tương đối dài, không giống nhau thông qua hàng loạt giai đoạn kế tiếp nhau.
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên: Cây trồng và vật nuôi chỉ có thể tồn tại và phát triển khi có đủ 5 yếu tố cơ bản của tự nhiên là nhiệt độ, nước, ánh sáng, không khí và dinh dưỡng, các yếu tố này kết hợp chặt ché với nhau, cùng tác động trong một thể thống nhất và không thể thay thế nhau. Sản xuất nông nghiệp có độ rủi ro cao do hoạt động sản xuất của nó phụ thuộc nhiều vào yếu tố khách quan, như thời tiết, sâu bệnh… e 6 + Đặc điểm của quá trình sản xuất trong sản xuất NN. Quá trình sản xuất của bất cứ DN nào cũng đều có các giai đoạn: nghiên cứu thị trường, chuẩn bị các yếu tố đầu vào để thực hiện quyết định sản xuất, tổ chức quản lý sản xuất để tạo ra hàng hóa, tổ chức tiêu thụ sản phẩm, thu tiền về. + Đặc điểm của thị trường của DN NN Sản xuất thường phải gắn với thị trường, vì thị trường vừa là điều kiện vừa là môi trường của SXKD hàng hóa.
Thị trường DN không chỉ là những thị trường đầu vào mà còn có cả thị trường đầu ra. Các yếu tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp nông nghiệp. Doanh nghiệp nông nghiệp không có diện tích đủ lớn để đầu tư sản xuất kinh doanh. Do chủ trương tích tụ ruộng đất và chính sách dồn điền đổi thửa tạo lập một thị trường chuyển nhượng đất đai khi triển khai còn lúng túng, nhiều vấn đề chưa rõ và chưa được hướng dẫn cụ thể.
Hiện nay mức hỗ trợ cho DN nông nghiệp còn thấp, chưa đủ sức hấp dẫn đầu tư cũng như chưa bảo vệ được DN nông nghiệp Việt Nam trước sức cạnh tranh của DN nước ngoài. Nông nghiệp là một trong những ngành xuất siêu nhiều nhất, mang lại giá trị nhiều nhất, song chính sách hỗ trợ lại hầu như ít nhất. Doanh nghiệp nông nhiệp chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn khó tiếp cận nguồn vốn cho nhu cầu đầu tư Thị trường đầu ra không ổn định dẫn đến các doanh nghiệp chưa dám đầu tư lớn do chưa tham gia được vào các chuỗi giá trị của những tập đoàn lớn. Bảo hiểm nông nghiệp hiện nay chưa được quan tâm phát triển đúng mức.
Mức độ rủi ro khi đầu tư vào doanh nghiệp nông nghiệp là rất lớn, việc không có cơ chế bảo hiểm các ngân hàng không dám mạo hiểm cho doanh nghiệp vay vốn. Chính sách thuế GTGT đối với doanh nghiệp nông nghiệp Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 quy định sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu thuộc diện không chịu thuế GTGT; Sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến ở khâu kinh doanh thương mại trừ gỗ và măng hưởng mức thuế suất ưu đãi 5% (mức thuế suất thông thường là 10%). Bên cạnh đó, các hàng hoá chủ yếu dùng cho đầu vào hoặc liên quan đến dịch vụ cung cấp cho hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng thuộc diện không chịu thuế (giống cây trồng, vật nuôi, nạo vét kênh mương nội đồng) hoặc áp dụng mức thuế suất ưu đãi 5% (máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp như: máy cày, máy bừa, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn chăn nuôi). Hàng hoá là nông, lâm, thuỷ sản xuất khẩu đều được áp dụng mức 0%, các cơ sở sản xuất kinh doanh xuất khẩu được hoàn lại số thuế GTGT đầu vào.
Từ ngày 01/01/2014, theo Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ đã bổ sung quy định không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT đối với trường hợp sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường do doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã ở khâu kinh doanh thương mại. Trường hợp bán cho hộ, cá nhân kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo mức thuế suất 5% hoặc theo tỷ lệ 1% trên doanh thu. Kể từ ngày 01/01/2015: Theo Luật số 71/2014/QH13 thì “Phân bón; máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; tàu đánh bắt xa bờ; thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác” thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. e 8 Từ ngày 01/7/2016, Luật số 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế GTGT, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế quy định doanh nghiệp, hợp tác xã mua sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Cơ sở lý luận về thuế GTGT 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế GTGT Tại Việt Nam, từ khi tiến hành cải cách thuế bước 1 (năm 1990) thuế giá trị gia tăng (GTGT) đã được nghiên cứu và áp dụng thử nghiệm ở 11 đơn vị (ngành đường, dệt, xi măng. Qua một thời gian thực hiện thử nghiệm, Luật Thuế GTGT số 57/1997/L-CTN lần đầu tiên được Quốc hội khóa IX ban hành vào ngày 10/5/1997, chính thức đưa vào áp dụng từ 01/01/1999 thay thế cho thuế doanh thu. Ngày 6/3/2008, Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12 ra đời thay thế cho Luật Thuế GTGT 57/1997/L-CTN; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT số 07/2003/QH11; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thuế GTGT số 57/2005/QH11.
Ngày 19/6/2013 Luật số 31/2013/QH13 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT đã được thông qua tại kỳ họp thứ 5 quốc hội XIII. Luật Thuế GTGT và Luật sửa đổi bổ sung Luật thuế GTGT ra đời đã đánh dấu sự phát triển mới về chính sách thuế GTGT của nước ta và điều chỉnh bao quát, đầy đủ lĩnh vực thuế GTGT, nhất là trong mặt quản lý thuế. Tại Điều 2 Văn bản hợp nhất số: 01/VBHN-VPQH ngày 28/4/2016 hợp nhất các Luật thuế giá trị gia tăng quy định: “Thuế giá trị gia tăng là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu e 9 dùng”. Gọi là thuế GTGT vì đây là sắc thuế chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm qua mỗi khâu của quá trình từ sản xuất đến kinh doanh cuối cùng là tiêu dùng và được thu ở khâu tiêu thụ hàng hóa dịch vụ (HHDV).
Như vậy, thuế GTGT đánh trên phần giá trị mới được tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. GTGT được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị HHDV bán ra với tổng giá trị HHDV mua vào tương ứng trong kỳ tính thuế.