CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH VÀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Lý luận chung về doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm , đặc điểm doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Trong Luật DN năm 1990 và năm 1999 có quy định về các tổ chức kinh tế tư hữu và các tổ chức kinh tế nhà nước nhưng đến lần sửa đổi gần đây nhất năm 2005 không còn có sự phân biệt DN nhà nước hay DN tư hữu về mặt quản trị DN. Nhưng để phục vụ mục đích quản lý thuế DN được phân chia thành các nhóm theo căn cứ vào chủ thể sở hữu bao gồm: DN nhà nước, DN ngoài nhà nước hay DN NQD và DN có vốn đầu tư của nước ngoài. Khái niệm DN NQD: DN NQD là một loại hình DN được thành lập theo quy định của Nhà nước, bao gồm cả các DN có vốn góp của Nhà nước trong DN nhỏ hơn 50% số vốn kinh doanh của DN, hoạt động theo quy định của pháp luật. DN NQD bao gồm: Công ty Cổ phần, Công ty Trách nhiệm hữu hạn, Công ty Hợp danh, DN tư nhân và Hợp tác xã.
Đặc điểm DN NQD có một số đặc điểm: Thứ nhất: Về mặt sở hữu, đây là điểm làm nên sự khác biệt của các DN NQD. Phần lớn tài sản của DN NQD là tư hữu. Quyền quản lý, điều hành DN Sinh viên : Lê Thị Hương 4 Lớp:CQ50/02.03 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính không thuộc về nhà nước mà thuộc về chủ sở hữu DN. Do đặc điểm chung các chủ sở hữu đều hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, họ luôn có xu hướng tối đa hóa lợi ích của mình.
Bởi vậy tình trạng trốn thuế, tránh thuế bằng nhiều thủ đoạn tinh vi cũng xảy ra nhiều ở các DN NQD. Thứ hai: Về số lượng DN và phạm vi hoạt động. Các DN NQD hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, sự hình thành và phát triển của DN tuân theo nhu cầu, điều kiện của thị trường, không có định mức quy mô hoạt động. Nên số lượng DN NQD rất lớn và phân bổ trên hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh với rất nhiều loại hình.
Với số lượng DN lớn và phạm vi hoạt động rộng đây cũng là đặc điểm gây không ít khó khăn cho công tác quản lý. Thứ ba: Về trình độ quản lý, năng lực chuyên môn ở các DN NQD. Sự phát triển của xã hội, trình độ, năng lực quản lý, chuyên môn ngày càng được nâng cao do có sự đào tạo bài bản. Nhưng mặt bằng chung ta thấy ở phần lớn các DN NQD trình độ quản lý của cán bộ, năng lực chuyên môn của nhân viên có sự yếu hơn so với khối DN nhà nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Điều này có thể thấy được từ việc yêu cầu với các ứng viên khi tuyển dụng nhân viên cho DN. Thứ tư: Về ý thức chấp hành pháp luật, đặc biệt là pháp luật Thuế. Đặc điểm này phụ thuộc khá nhiều vào trình độ năng lực quản lý cũng như chuyên môn ở các DN. Sự hiểu biết không đầy đủ dễ dẫn đến việc sai sót hoặc cố tình không thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Với những đặc điểm trên của khối DN NQD mang lại nhiều khó khăn hơn là thuận lợi trong quá trình quản lý thuế đối với khối DN NQD. Vai trò của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh DN NQD có thể kinh doanh trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế được pháp luật cho phép như sản xuất, chế biến, gia công, thương mại, vận chuyển, Sinh viên : Lê Thị Hương 5 Lớp:CQ50/02.03 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính du lịch… trừ một số ngành mà nhà nước giữ độc quyền để đảm bảo Quốc phòng, An ninh và ổn định chính trị đất nước. Trên con đường Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, sự hình thành và phát triển của các DN NQD có những đóng góp to lớn cho sự phát triển chung của nền kinh tế. Phát triển các DN NQD là giải pháp tạo ra thành quả tăng trưởng kinh tế chung, đổi mới bộ mặt kinh tế, xã hội, tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ cho xã hội góp phần nâng cao tổng thu nhập quốc nội, cải thiện đời sống nhân dân.
Với quy mô, loại hình DN đa dạng khối DN NQD cũng là nơi tạo ra rất nhiều công ăn việc làm, tạo ra thu nhập cho người lao động giúp giải quyết vấn đề lao động. Theo chuyên đề thống kê sự phát triển của DN Việt Nam giai đoạn 2011-2015 cho thấy. Thời điểm 31/12/2015 số lượng lao động làm việc trong DN là 10,9 triệu người thì số lượng lao động của khối DN NQD đạt 6,7 triệu người đạt gần 61,3% số lượng lao động ở các DN. Sự cho phép thành lập các DN thuộc sở hữu tư nhân cũng góp phần vào việc huy động được tối đa khả năng tiềm lực tài chính, kinh tế vào việc phát triển kinh tế xã hội.
Tâm lý của phần lớn mọi người đều muốn được tự tay quản lý sử dụng nguồn lực của mình hơn là việc giao cho người khác nắm quyển sử dụng. Việc này tạo điều kiện để những nguồn lực nhàn rỗi trong dân được huy động một cách triệt để và hiệu quả.Và kết quả thống kê sự phát triển DN Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015. Cho biết vào 31/12/2015 số vốn huy động vào khu vực DN là 14.863 nghìn tỉ đồng gấp 4,4 lần so với lượng vốn thu hút vào khu vực DN năm 2011. Riêng khối DN NQD thu hút 7.619 nghìn tỉ đồng chiếm 51,3% toàn DN và gấp 7,9 lần so với năm 2011.
Sự tồn tại song song giữa các DN NQD và DN nhà nước tạo ra một môi trường cạnh tranh hơn, nâng cao tính năng động cho nền kinh tế.Đồng thời góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Xu hướng phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Sinh viên : Lê Thị Hương 6 Lớp:CQ50/02.03 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính DN NQD hay là các tổ chức kinh tế tư hữu đã tồn tại khá sớm trong nền kinh tế Việt Nam. Xu hướng phát triển chung của nền kinh tế DN Việt Nam cũng ngày càng phát triển nhanh về cả quy mô và số lượng. Theo điều tra của Tổng cục Thống kê về tình hình phát triển của các DN Việt Nam năm 2011 đến năm 2015.
Tại thời điểm 31/12/2015 số lượng DN đang hoạt động trên địa bàn toàn quốc theo thống kê là trên 600.000 DN gấp 2,8 lần so với năm 2011. Cơ cấu DN theo loại hình kinh tế năm 2015, số lượng DN nhà nước là 6.065 DN chiếm khoảng 1%. DN NQD khoảng 578.920 DN chiếm 96,2%, đây là loại hình kinh tế tăng trưởng nhanh nhất gấp 2,7 lần năm 2011, số lượng DN có vốn đầu tư nước ngoài là 15. Từ kết quả thống kê trên ta có thể thấy được khối DN NQD có sự tăng trưởng nhanh nhất.
Với cơ chế kinh tế hiện hành, tình hình kinh tế Việt Nam có nhiều sự thay đổi cùng với chủ trương cổ phần hóa các DN, điều đó làm cho số lượng và quy mô của các DN NQD ngày càng tăng lên góp phần tích cực để tăng tính hiệu quả cho nền kinh tế. Tính đến hết năm 2015 toàn Việt Nam có trên 600.000 DN đang hoạt động và số doanh ghiệp NQD là khoảng 578. DN NQD ở Việt Nam hiện nay phần lớn là các DN vừa và nhỏ chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại và sản xuất nông nghiệp, thủ công và hoạt động gia công. Trong thời buổi kinh tế khó khăn hiện nay và những ảnh hưởng từ xu hướng hội nhập toàn cầu hóa đã ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của các DN NQD này.
Những khó khăn, yếu kém về ứng dụng khoa học công nghệ, trình độ nhân công, hay quy mô vốn nhỏ, khả năng tiếp cận các nguồn vốn khó khăn khiến cho các hoạt động, của DN gặp phải nhiều bất cập như: chất lượng sản phẩm không đạt chuẩn để xuất khẩu vào các thị trường khác, thiếu tính cạnh tranh so với sản phẩm tương tự Sinh viên : Lê Thị Hương 7 Lớp:CQ50/02.03 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính của các nước bạn điển hình thời gian qua là các sản phẩm nông nghiệp gạo, cà phê, tôm, cá tra, cá basa, … 1. Quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái quát chung về thuế Giá trị gia tăng 1. Khái niệm, đặc điểm của thuế Giá trị gia tăng Khái niệm Thuế GTGT được khai sinh tại nước Pháp với tên tiếng Anh là Value Added Tax viết tắt là VAT.
Đây là một trong các sắc Thuế thuộc hệ thống thuế tiêu dùng được áp dụng phổ biến, rộng rãi trên phạm vi của nhiều nước. Ở Việt Nam thuế GTGT được áp dụng lần đầu vào năm 1990 với tên gọi là Thuế Doanh Thu đến năm 1999 Quốc hội sửa đổi và ban hành luật mới chính thức mang tên gọi Thuế GTGT, tên gọi thuế GTGT vẫn được sử dụng cho đến hiện nay. Khái niệm “Thuế GTGT là sắc thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.” Đặc điểm Thuế GTGT là một sắc thuế tiêu dùng nên nó mang toàn bộ những đặc điểm của sắc thuế tiêu dùng như: Thứ nhất, thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn, không trùng lặp. Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm ở mỗi giai đoạn.
Thứ hai, thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao. Thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Thứ ba, thuế GTGT có tính lãnh thổ rõ rệt. Đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Sinh viên : Lê Thị Hương 8 Lớp:CQ50/02.03 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Thứ tư, thuế GTGT có tính lũy thoái so với thu nhập.