phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 4 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu thuế GTGT các doanh nghiệp nhỏ và vừa Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu đề tài Chƣơng 3: Thực trạng quản lý thu thuế GTGT các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Chƣơng 4: Một số giải pháp tăng cường quản lý thu thuế GTGT các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Những vấn đề chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa tại Nghị định 56/2009/NĐ- CP, ngày 30/6/2009 như sau: Là cơ sở kinh doanh đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn.
Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lao động từ 10 người trở xuống. Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có số vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc có từ trên 10 người đến 200 người đối với ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản, công nghiệp và xây dựng và có vốn từ 10 tỷ trở xuống hoặc có từ trên 10 người đến 50 người đối với ngành thương mại. Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có số vốn từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng hoặc từ trên 200 người đến 300 người đối với ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản, công nghiệp và xây dựng và có vốn từ trên 10 tỷ đến 50 tỷ đồng hoặc có từ trên 50 người đến 100 người đối với ngành thương mại. Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của nước ta, chiếm tỷ trọng lớn đóng góp vào nộp NSNN.
Trong công cuộc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành của nền kinh tế, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò ổn định nền kinh tế, với mục tiêu phát triển kinh tế là hàng đầu, có quy mô nhỏ và vừa nên rất năng động, dễ điều chỉnh hoạt động, nhạy bén trong sản xuất kinh doanh, sử dụng đồng vốn hiệu quả, có thể thâm nhập vào các nhu cầu của thị trường mà các doanh nghiệp lớn không vươn tới được, ngoài ra còn có tác dụng hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn trong việc cung cấp sản phẩm phụ, gia công và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo sự năng động, hiệu quả cho nền kinh tế. Số lượng các doanh nghiệp này tăng rất nhanh theo từng năm và có khả năng chuyển hướng kinh doanh khi thị trường gặp bất lợi.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy các nguồn lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm thất nghiệp, nâng cao đời sống cho người lao động. Doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển nền kinh tế, tạo ra nhiều hàng hóa dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường. Giá trị gia tăng do loại hình doanh nghiệp này tạo ra hàng năm chiếm tỷ trọng lớn, đảm bảo những chỉ tiêu tăng trưởng của nền kinh tế. Vừa góp phần đa dạng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặc biệt là với việc phát triển thương mại, dịch vụ, tiểu thụ công nghiệp ở nông thôn, phá chế độc canh thuần nông trong sản xuất nông nghiệp và nông thôn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 Ở thành thị, các khu công nghiệp, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là vệ tinh sản xuất gia công sản phẩm, dịch vụ vận tải, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá cho các doanh nghiệp lớn, thoả mãn một phần nhu cầu tiêu dùng xã hội, tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển tạo nguồn thu thuế ngày càng tăng và bền vững cho ngân sách Nhà nước. Ngoài ra các doanh nghiệp này còn tham gia đóng góp thông qua các hoạt động từ thiện, xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa, trường học, đường xá nông thông, ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, thiên tai, dịch bệnh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng có những hạn chế là quy mô nhỏ hẹp, nguồn vốn ít, công nghệ và quản lý hạn chế, nên khi thị trường gặp khó khăn các doanh nghiệp này thường gặp nhiều rủi do hơn các doanh nghiệp lớn.
Những vấn đề lý luận về Thuế giá trị gia tăng 1. Lý luận chung về thuế 1. Khái niệm về thuế Thuế hình thành cùng với sự ra đời của nhà nước, thuế l động tài chính, là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn do pháp luật qui định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội. Vai trò của thuế đối với phát triển kinh tế xã hội * Vai trò của thuế trong quản lý kinh tế - xã hội đƣợc thể hiện theo một số nội dung cơ bản sau: - Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước.
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện kinh tế thị trường, xuất phát từ phạm vi hoạt động và đòi hỏi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngày càng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 tăng, mà nguồn thu chủ yếu của thuế là từ thu nhập quốc dân sản xuất, khả năng động viên của thuế phụ thuộc vào sự phát triển, trình độ, hiệu quả sản xuất và ý thức tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng của doanh nghiệp và người dân, vì vậy chính sách động viên thuế phải khuyến kích doanh nghiệp phát triển bền vững ngày càng mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân và tổ chức nước ngoài đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Thuế không chỉ là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, nó còn gắn liền với các vấn đề về sự tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong phân phối và sự ổn định xã hội, thuế còn là một công cụ quan trọng trong chính sách tài chính tiền tệ, được Nhà nước sử dụng để thực hiện vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống pháp luật thuế phải được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế.
Thuế điều chỉnh hầu hết các hoạt động sản xuất, kinh doanh, các nguồn thu nhập, tiêu dùng xã hội. Đây là nguồn thu chính của NSNN cần được bồi dưỡng phát triển nguồn thu lâu dài. - Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng kiểm kê, kiểm soát, quản lý, hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.
* Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện đại, ngƣời ta thƣờng xác định các mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản mà Chính phủ phải theo đuổi, đó là: - Thuế kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm Để thực hiện mục tiêu này, một trong những công vụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng là chính sách thuế. Nội dung điều tiết của thuế gồm hai mặt: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 Kích thích và hạn chế. Nhà nước đã sử dụng chính sách thuế một cách linh hoạt trong từng thời kỳ nhất định, bằng việc tác động vào cung - cầu nhằm điều chỉnh chu kỳ kinh doanh một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. Khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi đầu tư ngừng trệ, sản xuất và tiêu dùng đều giảm thì Nhà nước dùng thuế để kích thích đầu tư và khuyến khích tiêu dùng.
Để hạn chế và gây áp lực đối với việc lưu giữ vốn không đưa vào đầu tư, có thể tăng thuế đánh vào thu nhập về tiền gửi tiết kiệm và thu nhập về tài sản dự trữ, từ đó sẽ khuyến khích việc đưa vốn vào đầu tư, sản xuất kinh doanh. Khi nền kinh tế hưng thịnh, để ngăn chặn nguy cơ một nền kinh tế “nóng” phát triển dẫn đến lạm phát và khủng hoảng thừa thì Nhà nước dùng thuế để giảm tốc độ đầu tư ồ ạt và giảm bớt mức tiêu dùng của xã hội. Song việc tăng thuế phải được xem xét trong một giới hạn cho phép để đảm bảo vừa tăng nguồn thu cho NSNN vừa điều chỉnh cơ cấu ngành nghề hợp lý. Như vậy, có thể thấy sự tác động của thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, đến việc điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước.
Thông qua thuế, Nhà nước thực hiện định hướng phát triển sản xuất. Chính sách thuế có định hướng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường thường diễn ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững. - Thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công bằng xã hội.
Kinh tế thị trường làm tăng sự phân hoá giàu nghèo, sự phân hoá này có những khi bất hợp lý và làm giảm tính hiệu quả kinh tế xã hội. Do vậy, cần Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.