Tổng quan nghiên cứu

Quản lý ngân sách nhà nước trong lĩnh vực hành chính tư pháp đóng vai trò nền tảng trong việc bảo đảm trật tự pháp luật và thúc đẩy công cuộc cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao, việc quản lý mạng lưới tài chính công phủ rộng trên 72 đơn vị dự toán toàn ngành, bao gồm 63 đơn vị cấp tỉnh và 695 đơn vị cấp huyện, đòi hỏi tính minh bạch, kỷ cương và hiệu quả phân bổ rất cao. Tuy nhiên, giai đoạn 2009 - 2012 đã bộc lộ những bất cập đáng kể khi tình trạng lập dự toán thiếu kinh phí hoạt động thường xuyên diễn ra phổ biến, trong khi các nguồn kinh phí bố trí cho công tác đặc thù như thuê luật sư, triệu tập nhân chứng và giải quyết án điểm lại không giải ngân hết, buộc phải hoàn trả ngân sách nhà nước hàng năm.

Trước đòi hỏi cấp bách từ lý luận và thực tiễn quản lý tài chính công, luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Lê Văn Hợp tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân được thực hiện nhằm phân tích toàn diện thực trạng quản lý ngân sách nhà nước tại cơ quan Viện kiểm sát nhân dân tối cao giai đoạn 2009 - 2012. Nghiên cứu xác định rõ mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, chỉ rõ những kết quả đạt được, phát hiện các nút thắt trong công tác phân bổ, chấp hành và quyết toán ngân sách, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ngân sách. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua mục tiêu gia tăng tỷ lệ giải ngân đúng tiến độ đạt trên 95%, tiết kiệm từ 10% đến 15% chi phí quản trị hành chính nội bộ và bảo đảm nguồn lực vững chắc cho toàn ngành thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết tài chính công hiện đại và các nguyên lý kinh tế chính trị về quản lý tài chính trong các cơ quan hành chính nhà nước. Tài chính cơ quan hành chính được định nghĩa là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình huy động, phân bổ và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm phục vụ chức năng thực thi quyền lực công mà không trực tiếp tạo ra của cải vật chất.

Khung lý thuyết của luận văn vận dụng 3 khái niệm then chốt: Chu trình quản lý ngân sách nhà nước (gồm khâu lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách theo Luật Ngân sách nhà nước, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP và Thông tư số 59/2003/TT-BTC); Định mức phân bổ tài chính công (theo Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg và Quyết định số 646/QĐ-VKSTC-V11 với định mức chi thường xuyên 30.000 đồng/người/năm đối với khối cơ quan trung ương); và Cơ chế phân cấp tự chủ tài chính theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP. Mô hình tổ chức quản lý tài chính được thiết kế theo cấu trúc 3 cấp kế toán thống nhất: Cấp I là Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cấp II gồm Văn phòng Viện tối cao cùng 63 Viện kiểm sát cấp tỉnh, và Cấp III gồm 695 Viện kiểm sát cấp huyện cùng các đơn vị sự nghiệp trực thuộc.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn bao gồm dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo quyết toán ngân sách, báo cáo tài chính hàng năm giai đoạn 2009 - 2012 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cùng các số liệu công khai từ Bộ Tài chính về ngân sách của Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp. Cỡ mẫu nghiên cứu bao phủ toàn diện 72 đơn vị dự toán trong toàn hệ thống, khảo sát trực tiếp cơ cấu 43 cán bộ công chức thuộc 5 phòng chuyên môn của Vụ Kế hoạch - Tài chính và hệ thống tài vụ tại cơ quan trung ương.

Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng cho các đơn vị dự toán cấp I và cấp II, kết hợp phương pháp chọn mẫu đối chuẩn so sánh với 2 đơn vị có quy mô tương đồng là Tòa án nhân dân tối cao (hơn 700 đơn vị trực thuộc) và Bộ Tư pháp (81 đơn vị dự toán trực thuộc). Tác giả lựa chọn phối hợp phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích so sánh chuỗi thời gian 4 năm (2009 - 2012) và phương pháp mô hình hóa luồng chuyển giao ngân sách. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm làm rõ mối tương quan giữa quy mô biên chế với hiệu suất chi tiêu, bóc tách nguyên nhân gây nghẽn dòng vốn đầu tư xây dựng cơ bản và đánh giá tính tuân thủ pháp luật kế toán của ngành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổ chức bộ máy quản lý tài chính của ngành còn thiếu tính độc lập và đồng bộ. Tại Vụ Kế hoạch - Tài chính cơ quan trung ương có 43 biên chế (gồm 10 thạc sĩ kinh tế, 9 kỹ sư xây dựng, 23 cử nhân kinh tế và 1 cán bộ lưu trữ) bố trí tại 5 phòng nghiệp vụ nhưng không bổ nhiệm chức danh Kế toán trưởng cấp I. Ở cấp tỉnh, chỉ có 2 trên tổng số 63 đơn vị là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 3,17%) thành lập được Phòng Kế toán - Tài chính độc lập; còn lại 61 đơn vị (chiếm 96,83%) bộ phận kế toán vẫn phụ thuộc vào Văn phòng, tạo ra sự chồng chéo trong chỉ đạo điều hành.

Thứ hai, tồn tại sự mất cân đối nghiêm trọng trong phân bổ và giải ngân các nhóm kinh phí. Trong giai đoạn 2009 - 2012, nhóm chi thanh toán cho con người và chi thường xuyên luôn đạt tỷ lệ quyết toán trên 98%, bảo đảm đời sống cán bộ. Ngược lại, nhóm chi nghiệp vụ đặc thù không tự chủ (kinh phí thuê luật sư chỉ định, bồi dưỡng nhân chứng, điều tra án điểm) thường xuyên giải ngân chậm, tỷ lệ kinh phí không sử dụng hết phải hoàn trả ngân sách nhà nước dao động từ 15% đến 25% mỗi năm.

Thứ ba, hệ thống công nghệ thông tin phục vụ kế toán chưa được đồng bộ hóa toàn ngành. Toàn bộ 695 đơn vị cấp huyện và 63 đơn vị cấp tỉnh sử dụng các phần mềm kế toán rời rạc, thiếu sự liên thông tự động với phần mềm tổng hợp dự toán tại Vụ Kế hoạch - Tài chính, khiến thời gian đối soát quyết toán năm kéo dài thêm từ 30 đến 45 ngày so với quy định chuẩn của Kho bạc Nhà nước.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của tình trạng trên là do công tác dự báo nhu cầu nghiệp vụ tư pháp chưa sát với diễn biến tội phạm thực tế, cùng sự thiếu linh hoạt trong cơ chế điều chuyển kinh phí giữa các tiểu mục chi không tự chủ. Khi so sánh với Tòa án nhân dân tối cao (năm 2011 chi quản lý nhà nước đạt 1.656,51 tỷ đồng và năm 2012 đầu tư 70 tỷ đồng trang bị phương tiện làm việc) và Bộ Tư pháp (quản lý 81 đơn vị dự toán với định mức 37 triệu đồng/biên chế/năm, tiết kiệm chi trả thu nhập tăng thêm từ 3 đến 4 tháng lương), Viện kiểm sát nhân dân tối cao bộc lộ sự chậm trễ trong việc áp dụng quy chế chi tiêu nội bộ gắn liền với hiệu suất công việc.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày rõ nét qua biểu đồ hình cột so sánh độ lệch giữa dự toán và quyết toán các khoản chi giai đoạn 2009 - 2012, kết hợp bảng thống kê cơ cấu biên chế tại các đơn vị dự toán. Kết quả phân tích khẳng định rằng, nếu không khẩn trương đổi mới cơ chế quản trị và hiện đại hóa công cụ giám sát, tình trạng lãng phí nguồn lực ngân sách sẽ tiếp tục là rào cản đối với tiến trình hiện đại hóa cơ quan kiểm sát.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản và quy chế quản lý tài chính nội bộ. Rà soát, ban hành mới 100% các quy chế chi tiêu nội bộ và hướng dẫn phân bổ kinh phí đặc thù ngành trong quý 2 năm 2014, bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt Luật Ngân sách nhà nước và Nghị định số 60/2003/NĐ-CP do Vụ Kế hoạch - Tài chính trực tiếp chủ trì.

Thứ hai, kiện toàn và đổi mới tổ chức bộ máy kế toán toàn ngành. Triển khai Đề án thành lập Phòng Kế toán - Tài chính độc lập tại 61 Viện kiểm sát cấp tỉnh còn lại, phấn đấu hoàn thành 100% trước năm 2015; đồng thời bổ nhiệm đầy đủ chức danh Phụ trách kế toán tại 695 đơn vị cấp huyện nhằm nâng cao tính tự chủ và trách nhiệm giải trình.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và đồng bộ hóa phần mềm quản lý. Đầu tư lắp đặt phần mềm kế toán và quản lý ngân sách tập trung liên thông từ trung ương đến 72 đơn vị dự toán cấp II và 695 đơn vị cấp III trong giai đoạn 2014 - 2016, mục tiêu cắt giảm 50% thời gian tổng hợp báo cáo tài chính định kỳ.

Thứ tư, tăng cường kiểm tra, giám sát và bồi dưỡng nhân sự tài chính. Tổ chức định kỳ tối thiểu 4 đợt tập huấn nghiệp vụ mỗi năm cho toàn bộ cán bộ kế toán trong ngành, gắn trách nhiệm cá nhân của thủ trưởng đơn vị với tỷ lệ giải ngân, phấn đấu kéo giảm tỷ lệ kinh phí nghiệp vụ hoàn trả ngân sách xuống dưới 5% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Lãnh đạo và chuyên viên Vụ Kế hoạch - Tài chính thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng các luận cứ thực chứng và mô hình dự báo của đề tài để xây dựng phương án phân bổ ngân sách trung hạn khoa học cho 72 đơn vị dự toán toàn ngành.

Thứ hai, Kế toán trưởng và cán bộ tài vụ tại 63 Viện kiểm sát cấp tỉnh cùng 695 đơn vị cấp huyện. Luận văn cung cấp cẩm nang thực hành chi tiết về quy trình lập dự toán, quản lý tài sản cố định và lập hồ sơ thanh quyết toán qua hệ thống Kho bạc Nhà nước.

Thứ ba, Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế chính trị, Tài chính công và Quản trị công. Đây là tài liệu tham khảo giá trị cung cấp bức tranh toàn cảnh về cơ chế vận hành tài chính trong hệ thống cơ quan tư pháp Việt Nam giai đoạn 2009 - 2012.

Thứ tư, Cán bộ quản lý tại Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Kiểm toán Nhà nước. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu cơ sở thực tế để các cơ quan quản lý vĩ mô hoàn thiện định mức phân bổ chi thường xuyên và cơ chế khoán chi đặc thù cho khối các cơ quan tư pháp.

Câu hỏi thường gặp

1. Hệ thống tổ chức bộ máy kế toán ngành Kiểm sát nhân dân được phân cấp như thế nào?

Bộ máy kế toán ngành Kiểm sát được tổ chức chặt chẽ theo mô hình 3 cấp: Cấp I là Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Cấp II gồm 64 đơn vị dự toán trực thuộc (Văn phòng Viện tối cao và 63 Viện kiểm sát cấp tỉnh); Cấp III gồm 695 Viện kiểm sát cấp huyện và 8 đơn vị sự nghiệp, đào tạo trực thuộc trung ương.

2. Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng vừa thiếu vừa thừa kinh phí trong giai đoạn 2009 - 2012?

Tình trạng này xảy ra do công tác lập dự toán chi thường xuyên chưa tính hết trượt giá biên chế, trong khi các khoản chi đặc thù như thuê luật sư, triệu tập nhân chứng dự toán cao nhưng không phát sinh án tương ứng. Do thiếu cơ chế điều chuyển linh hoạt, từ 15% đến 25% kinh phí đặc thù này đã phải nộp trả lại ngân sách nhà nước.

3. Đội ngũ nhân lực quản lý tài chính tại Vụ Kế hoạch - Tài chính Viện kiểm sát tối cao có quy mô ra sao?

Tại thời điểm nghiên cứu, Vụ Kế hoạch - Tài chính có tổng cộng 43 biên chế, bao gồm 10 thạc sĩ kinh tế, 9 kỹ sư xây dựng, 23 cử nhân kinh tế và 1 cán bộ cao đẳng văn thư, thực hiện công tác quản lý tài chính, đầu tư xây dựng và mua sắm tài sản trên 5 phòng chuyên môn.

4. Kinh nghiệm quản lý ngân sách từ Tòa án tối cao và Bộ Tư pháp gợi mở bài học gì?

Tòa án nhân dân tối cao đã giải ngân hiệu quả 70 tỷ đồng mua sắm thiết bị tập trung, trong khi Bộ Tư pháp áp dụng thành công định mức 37 triệu đồng/biên chế/năm tại 81 đơn vị trực thuộc. Bài học rút ra là cần triệt để phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm tiết kiệm chi phí để tăng thu nhập cho cán bộ từ 3 đến 4 tháng lương.

5. Giải pháp đột phá nào giúp chuẩn hóa quản trị tài chính tại 63 Viện kiểm sát cấp tỉnh?

Giải pháp đột phá là tách bộ phận kế toán khỏi Văn phòng để thành lập Phòng Kế toán - Tài chính độc lập tại 61 tỉnh thành còn lại (học tập mô hình của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh), kết hợp triển khai phần mềm quản lý ngân sách trực tuyến kết nối hệ thống TABMIS cho toàn bộ 695 đơn vị cấp huyện.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận về quản lý tài chính công áp dụng riêng cho cơ quan tư pháp.
  • Phân tích đa chiều thực trạng thu - chi ngân sách tại 72 đơn vị dự toán ngành Kiểm sát giai đoạn 2009 - 2012.
  • Làm rõ nguyên nhân khiến từ 15% đến 25% kinh phí đặc thù bị tồn đọng và đề xuất mô hình kiện toàn bộ máy 3 cấp.
  • Đúc kết bài học thực tiễn giá trị về định mức phân bổ chi thường xuyên từ Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp.
  • Hoàn thiện hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao nhằm chuẩn hóa thể chế, nhân sự và công nghệ tài chính.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc giúp Viện kiểm sát nhân dân tối cao nâng cao hiệu lực quản lý tài chính trong tiến trình cải cách tư pháp. Các cơ quan quản lý cần bắt tay triển khai ngay lộ trình tái cơ cấu bộ máy trong giai đoạn 2014 - 2015 và hoàn thiện chuyển đổi số kế toán trước năm 2016. Hãy chủ động nghiên cứu và áp dụng những giải pháp đột phá từ luận văn để tối ưu hóa nguồn lực tài chính công ngay hôm nay.