Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHỐNG THẤT THOÁT NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý chống thất thoát nước 1. Các khái niệm về nước sạch Nước sạch có thể được định nghĩa là nguồn nước: Trong, không màu, không mùi, không vị, không chứa các độc chất và vi khuẩn gây bệnh. Tỷ lệ các chất độc hại và vi khuẩn không quá mức độ cho phép của tiêu chuẩn vệ sinh của mỗi quốc gia.
Và là loại nước trong quá trình sử dụng đáp ứng được yêu cầu, không nguy hại đến cơ thể người, thuận tiện cho việc sinh hoạt hàng ngày. Vai trò của nước sạch, sự cần thiết của việc quản lý nguồn nước 1. Vai trò của nước sạch Như chúng ta đã biết nước chiếm 70% diện tích bề mặt trên toàn thế giới. Nước có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người cũng như bất cứ sinh vật nào trên trái đất.
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá nhưng không phải là vô tận. Nước cần cho mọi sự sống và phát triển, nước vừa là môi trường vừa là đầu vào cho các quá sinh sản xuất nông nghiệp, công nghiệp. Nước trong tự nhiên bao gồm toàn bộ các đại dương, biển vịnh sông hồ, ao suối, nước ngầm, hơi nước ẩm trong đất và trong khí quyển. Trên trái đất khoảng 94% là nước mặn, 2-3% là nước ngọt.
Nước ngọt chiếm một tỷ lệ rất nhỏ và tồn tại dưới dạng lỏng trọng tự nhiên dưới dạng nước mặt, nước ngầm, băng tuyết… Dân gian ta có câu: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”, qua đó chúng ta có thể thấy được vai trò của nước trong nông nghiệp. Theo FAO, tưới nước và phân bón là hai yếu tố quyết định hàng đầu là nhu cầu thiết yếu, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 5 đồng thời còn có vai trò điều tiết các chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, đô thoáng khí trong đất, làm cho tốc độ tăng sản lượng lương thực vượt qua tốc độ tăng dân số thế giới. Trong sản xuất công nghiệp nước cũng đóng vai trò rất quan trọng. Người ta ước tính rằng 15% sử dụng nước trên toàn thế giới công nghiệp như: các nhà máy điện, sử dụng nước để làm mát hoặc như một nguồn năng lượng, quặng và nhà máy lọc dầu, sử dụng nước trong quá trình hóa học, và các nhà máy sản xuất, sử dụng nước như một dung môi.
Vì vậy, nước là nguồn tài nguyên quý giá và rất cần thiết cho hoạt động sống của con người cũng như các sinh vật. Đối với một quốc gia, nếu không sớm ý thức về sự khan hiếm của nguồn tài nguyên nước để có quy hoạch sử dụng hợp lý thì quốc gia đó khó có thể định cư lâu dài trên lãnh thổ của mình. Nước đang trở thành nguồn tài nguyên khan hiếm một cách tương đối với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Những quan niệm sai lầm về trữ lượng nguồn tài nguyên này sẽ gây lãng phí nghiêm trọng, thậm trí kìm hãm tốc độ tăng trưởng tổng thu nhập nền kinh tế quốc dân.
Vai trò của nước sạch đối với sức khỏe cộng đồng Hậu quả chung của tình trạng ô nhiễm nước là tỉ lệ người mắc các bệnh cấp và mạn tính liên quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư… ngày càng tăng. Người dân sinh sống quanh khu vực ô nhiễm ngày càng mắc nhiều loại bệnh tình nghi là do dùng nước bẩn trong mọi sinh hoạt. Vậy để đảm bảo được nguồn nước sạch cho cộng đồng là phải giữ được mức độ an toàn cho sức khỏe con người, cần phát hiện và tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm cũng như các hóa chất có trong nước trước khi đưa vào phục vụ cộng đồng. Chiến lược ngắn hạn là tuyên truyền người dân sử dụng những phương pháp xử lý nước đơn giản tại hộ gia đình như lọc nước, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 6 đun sôi nước bằng nhiệt lượng.
Chiến lược lâu dài là có thể cung cấp những nguồn nước sinh hoạt an toàn đã qua xử lý và cải thiện hệ thống vệ sinh. Vai trò của nước sạch đối với nền kinh tế xã hội. Việc dân số ngày càng gia tăng sẽ kéo thêm một số nhu cầu - vấn đề khẩn thiết mới cho con người như thực phẩm, y tế, giáo dục, phát triển và môi sinh. Các nhu cầu trên có liên hệ chặt chẽ với nhau, do đó không thể có cái nhìn riêng rẽ và độc lập trong việc áp dụng khoa học kỹ thuật để phát triển mà không lưu ý đến các mối liên hệ đến những yếu tố ảnh hưởng lên sức khoẻ con người, trong đó có vấn đề nước sạch.
Theo báo cáo của Bộ Y tế, tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 250.000 người bị mắc bệnh tiêu chảy cấp phải nhập viện. Tình trạng thiếu nước sạch hằng năm ảnh hưởng tới ít nhất 1 triệu người Việt Nam và trong 4 năm qua, có tới 6 triệu trường hợp mắc bệnh liên quan tới thiếu nước sạch, ước tính chi phí cho y tế là khoảng 20 triệu USD. Nước sạch phục vụ việc tăng trưởng phát triển kinh tế, đầu tư cho sản xuất và phân phối nước sạch là đầu tư cơ sở hạ tầng. Đó là điều kiện tiền đề cho việc phát triển hàng loạt các ngành nông nghiệp, công nghiệp, chế biến thực phẩm, nước giải khát, công nghệ dệt nhuộm, may mặc, công nghiệp chế biến gỗ, công nghiệp luyện kim, sản xuất giấy, chế tạo máy móc thiết bị, xây dựng.
Nguồn nước sạch được cung cấp đầy đủ, ổn định cho thành phố còn là điều kiện để đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ như: Nhà hàng khách sạn, du lịch, y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. và còn rất nhiều ngành nghề khác phụ thuộc vào nguồn nước sạch từ mạng lưới phân phối nước. Sự cần thiết của việc quản lý nguồn nước Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 7 Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn.
Ở các thành phố lớn, đông dân chất thải do sinh hoạt cũng là một nguyên nhân quan trọng đang gây ô nhiễm môi trường nước. Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Ví như ở các ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11, chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD), nhu cầu ôxy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1, hàm lượng chất rắn lơ lửng. cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép.
Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước bề mặt trong vùng dân cư. Trước thực trạng đó, nếu không có những biện pháp bảo vệ kịp thời để nguồn nước ngầm bị ô nhiễm thì việc xử lý là rất khó khăn. Vì vậy, chúng ta cần có những hành động khẩn cấp để bảo vệ các nguồn nước, bảo vệ sự sống của cộng đồng. Nội dung về quản lý chống thất thoát nước 1.
Khái niệm về quản lý chống thất thoát nước. Thất thoát nước là lượng nước bị tổn thất trong quá trình vận chuyển và phân phối nước sạch được xác định bởi sự chênh lệch giữa lượng nước sạch vào mạng lưới cấp nước với lượng nước tiêu thụ thực tế ghi nhận được. Bao gồm hai thành phần chính là: (1) thất thoát cơ học (do rò rỉ trên mạng lưới cấp nước từ các điểm bể nổi và bể ngầm) và (2) thất thu do quản lý (ảnh hưởng từ các đối tượng tiêu thụ nước sạch, các ảnh hưởng do điều kiện kỹ thuật và đo lường dẫn đến sai số của thiết bị đo). (1) Thất thoát cơ học: Là lượng nước thất thoát hữu hình từ hệ thống phân phối và bao gồm cả lượng nước rò rỉ và xả tràn khi đến đầu cuối người Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 8 sử dụng.
Lượng nước thất thoát thực tế cao sẽ gián tiếp đòi hỏi các nhà cung cấp nước bơm hút, xử lý và truyền tải những khối nước lớn hơn nhu cầu cần thiết của khách hàng. Đồng thời cũng cần nhiều năng lượng hơn để xử lý và truyền tải, đôi khi lớn hơn khả năng sản xuất năng lượng thường dành cho những khối nước lớn hơn. Rò rỉ, vỡ ống và tràn thường gây ra thiệt hại đáng kể và làm tăng trách nhiệm bồi thường của nhà cung cấp. Phần lớn nước rò rỉ đều len lỏi chảy xuống các hệ thống cống nước thải sinh hoạt hoặc mương thu nước mưa và nhà máy xử lý nước thải tại chỗ có thể cũng phải xử lý lượng nước này.
Hai lần xử lý tốn kém mà không mang lại lợi ích sử dụng nào. Các nguồn nước ngầm bị khai thác một cách không cần thiết do bơm hút vô tổ chức ở mức độ lớn. Vì vậy thất thoát nước lớn có thể hạn chế sự phát triển của một vùng do những giới hạn về nguồn nước có sẵn thất thoát. (2) Thất thu do quản lý: Là lượng nước thất thoát chủ yếu "trên giấy" và bao gồm cả lượng nước sử dụng của khách hàng nhưng không được ghi lại do sai số của đồng hồ, do quá trình ghi thu, hoặc tiêu thụ bất hợp pháp.
Thất thu do quản lý tác động trực tiếp đến tài chính của nhà cung cấp và khách hàng. Tác động kinh tế của thất thu do quản lý lớn hơn nhiều so với thất thoát cơ học vì giá trị chi phí được tính theo mức giá bán lẻ, còn thất thoát cơ học giá trị chi phí được tính theo chi phí giá thành, thấp hơn nhiều so với mức giá bán lẻ. Vì vậy quản lý chống thất thoát không chỉ có ý nghĩa nâng cao các nghiệp vụ cấp nước mà còn phải kéo theo việc tăng doanh thu cho các công ty cấp nước. Nội dung của việc quản lý chống thất thoát nước a.
Xác định thất thoát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 9 Thất thoát cơ học: Nó được tính theo tỷ lệ % sản lượng được tiêu thụ so với tổng công suất phát ra tại nhà máy. Các thành phần này được xác định thông qua số đo đồng hồ tại nhà máy, đồng hồ đo lưu lượng tổng tại các khu vực, đồng hồ nhánh và đồng hồ tiêu thụ tại các hộ dân.