Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những chủ trương chiến lược hàng đầu của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Huyện Phúc Thọ, nằm ở phía Tây Bắc Thủ đô Hà Nội với diện tích tự nhiên 117 km2 và quy mô dân số trên 17,5 vạn người, giữ vai trò quan trọng trong vành đai sinh thái của thành phố. Dù đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trên 9%/năm và tổng giá trị sản xuất năm 2013 đạt 1.450 tỷ đồng, địa phương vẫn đối mặt với nhiều rào cản khi bước vào Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết những bất cập, lúng túng trong công tác quản lý nhà nước từ cấp huyện đến cấp cơ sở. Tại thời điểm khảo sát, huyện chưa có xã nào đạt chuẩn 19 tiêu chí nông thôn mới, trong khi tỷ lệ lao động nông nghiệp còn chiếm tới 63,15% và tỷ lệ kiên cố hóa đường giao thông nội đồng chỉ đạt 6,47%. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện thực trạng công tác chỉ đạo, lập quy hoạch, điều hành ngân sách và thanh tra giám sát tại 22 xã trên địa bàn. Qua đó, tác giả xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao năng lực quản trị công, tối ưu hóa các nguồn lực xã hội hóa và đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các tiêu chí quốc gia giai đoạn 2014-2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương chuyển đổi mô hình quản lý hành chính thuần túy sang quản trị phát triển phục vụ nhân dân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết quản lý hành chính công và lý thuyết quản trị công mới nhằm phân tích sự tác động của bộ máy chính quyền đối với tiến trình phát triển kinh tế nông thôn. Kết hợp với đó là tiếp cận phát triển cộng đồng dựa vào nội lực, coi người dân là chủ thể trung tâm vừa trực tiếp tham gia vừa thụ hưởng thành quả. Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa bao gồm: khái niệm nông thôn theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, khái niệm nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, và khái niệm quản lý nhà nước trong xây dựng nông thôn mới. Theo đó, quản lý nhà nước là quá trình chấp hành, điều hành thông qua việc ban hành cơ chế chính sách, lập quy hoạch không gian, phân bổ ngân sách, đào tạo nguồn nhân lực và kiểm tra, giám sát thực thi 19 tiêu chí quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2009-2013 của Ủy ban nhân dân huyện Phúc Thọ, Phòng Kinh tế, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng số liệu thống kê tại 22 xã, thị trấn. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu định mức kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 400 đại biểu là cán bộ quản lý cấp huyện, lãnh đạo xã, trưởng thôn và đại diện hộ dân tham gia các tọa đàm chuyên đề, cùng 656 học viên thuộc 20 lớp đào tạo nghề lao động nông thôn.

Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng và phỏng vấn chuyên sâu là nhằm phản ánh khách quan sự khác biệt về năng lực quản lý giữa các xã điểm và các xã vùng bãi, vùng đồng. Tác giả áp dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và phương pháp so sánh đối chuẩn với kinh nghiệm thành công từ huyện Hải Hậu (tỉnh Nam Định), huyện Đan Phượng (thành phố Hà Nội) và huyện Phước Long (tỉnh Bạc Liêu). Timeline phân tích tập trung từ khi bắt đầu triển khai chương trình năm 2009 đến thời điểm hoàn thành luận văn năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về công tác tổ chức bộ máy và lập quy hoạch, huyện Phúc Thọ đã đạt tỷ lệ 100% với 22/22 xã hoàn thành phê duyệt đề án và quy hoạch xây dựng nông thôn mới trước tháng 12/2012. Tuy nhiên, tính khả thi của một số quy hoạch chưa cao do năng lực cán bộ cơ sở hạn chế và phụ thuộc nhiều vào đơn vị tư vấn.

Thứ hai, kết quả đánh giá theo Bộ tiêu chí quốc gia cho thấy khoảng cách lớn giữa thực tiễn và mục tiêu chuẩn hóa. Toàn huyện chỉ có 01 tiêu chí đạt chuẩn là an ninh trật tự (chiếm 5,26%), 07 tiêu chí cơ bản đạt (chiếm 36,84%), 02 tiêu chí đạt trên 50% (chiếm 10,53%), và có tới 09 tiêu chí chưa đạt (chiếm 47,37%) bao gồm quy hoạch, thủy lợi, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ, thu nhập, hộ nghèo, cơ cấu lao động và môi trường.

Thứ ba, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn thiếu thốn nghiêm trọng. Toàn huyện có 291,53 km đường trục chính nội đồng nhưng mới chỉ bê tông hóa được 18,86 km (đạt 6,47%), nhu cầu cần làm mới và nâng cấp lên tới 272,67 km. Toàn huyện có 78 nhà văn hóa thôn nhưng chưa có công trình nào đạt chuẩn theo quy định mới.

Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực và chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. Lực lượng lao động trong độ tuổi có 87.143 người, nhưng lao động nông nghiệp chiếm tới 63,15% (55.027 người) và tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm áp đảo 80,99% (70.577 người).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ sự lúng túng trong phương pháp quản lý của bộ máy cấp cơ sở, tư tưởng trông chờ ỷ lại vào ngân sách cấp trên, và công tác tuyên truyền vận động chưa tạo được sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức của người dân.

Khi so sánh với huyện Đan Phượng lân cận, nơi đã nâng cấp 130.000m đường ngõ xóm và tiết kiệm cho ngân sách hơn 190 tỷ đồng (đạt tỷ lệ tiết kiệm 58,7% so với dự toán), có thể thấy huyện Phúc Thọ chưa khơi dậy mạnh mẽ nguồn vốn xã hội hóa từ doanh nghiệp và nhân dân. So với huyện Hải Hậu nơi người dân tự nguyện hiến gần 400 ha đất và đóng góp hơn 500 tỷ đồng, Phúc Thọ cần thay đổi phương thức huy động sự tham gia của cộng đồng.

Dữ liệu nghiên cứu của luận văn có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện mức độ hoàn thành 19 tiêu chí giữa các xã, kết hợp bảng ma trận so sánh nhu cầu vốn đầu tư hạ tầng giao thông và trường học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2014-2020.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế chỉ đạo và nâng cao năng lực bộ máy điều hành. Ủy ban nhân dân huyện Phúc Thọ cần ban hành quy chế phân công trách nhiệm cụ thể cho từng phòng ban, gắn việc đánh giá thi đua của cán bộ với tiến độ xây dựng nông thôn mới tại các xã được phân công phụ trách. Mục tiêu đến năm 2015, 100% cán bộ phụ trách công tác nông thôn mới cấp xã, thôn được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý dự án và giám sát đầu tư cộng đồng.

Thứ hai, tập trung quy hoạch phát triển sản xuất gắn với hoàn thành dồn điền đổi thửa. Phòng Kinh tế phối hợp với Ủy ban nhân dân 22 xã chỉ đạo dứt điểm công tác dồn điền đổi thửa trong năm 2014, hình thành các vùng chuyên canh hàng hóa chất lượng cao như hoa cây cảnh, rau an toàn, phấn đấu nâng giá trị sản xuất bình quân từ 100 triệu đồng/ha lên trên 150 triệu đồng/ha vào năm 2018.

Thứ ba, đa dạng hóa các nguồn lực tài chính và phương thức xã hội hóa hạ tầng. Ban Chỉ đạo huyện cần áp dụng linh hoạt phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, vận động doanh nghiệp tạm ứng vật tư hoặc hỗ trợ máy móc thi công giao thông nội đồng. Mục tiêu nâng tỷ lệ kiên cố hóa đường giao thông nội đồng từ 6,47% lên trên 70% và hoàn thành nâng cấp 22 nhà văn hóa xã đạt chuẩn trong giai đoạn 2014-2020.

Thứ tư, đẩy mạnh đào tạo nghề và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì triển khai Quyết định 1956/QĐ-TTg, tổ chức đào tạo nghề cho tối thiểu 2.700 lao động mỗi năm, phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 19,01% lên trên 40% vào năm 2020, tạo điều kiện chuyển dịch mạnh mẽ sang lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà quản lý công, cán bộ lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện và xã đang trực tiếp chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Luận văn cung cấp bài học kinh nghiệm về lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực và xử lý vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, dồn điền đổi thửa.

Thứ hai, các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp và Quản trị công. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị với phương pháp tiếp cận thực chứng, bộ dữ liệu chi tiết tại 22 xã và khung phân tích chính sách hoàn chỉnh.

Thứ ba, các tổ chức đoàn thể như Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và các Hợp tác xã nông nghiệp. Luận văn mang lại các giải pháp cụ thể nhằm tuyên truyền, vận động hội viên phát huy quyền làm chủ, tham gia hiến đất và giám sát công trình công cộng.

Thứ tư, các doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao và xây dựng công trình nông thôn. Báo cáo giúp doanh nghiệp nắm bắt định hướng quy hoạch không gian kinh tế và cơ chế hỗ trợ đầu tư của huyện Phúc Thọ.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi khiến huyện Phúc Thọ chưa có xã nào đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2009-2013 là gì? Nguyên nhân chủ yếu do xuất phát điểm kinh tế thấp, tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm tới 63,15%, bộ máy quản lý cấp xã còn lúng túng trong triển khai và nhận thức của người dân về vai trò chủ thể chưa thực sự rõ nét, dẫn đến 9/19 tiêu chí chưa đạt.

Thực trạng kiên cố hóa hệ thống giao thông tại huyện Phúc Thọ đặt ra thách thức gì về nhu cầu vốn? Toàn huyện có 867,41 km đường giao thông các loại, nhưng đường trục chính nội đồng mới chỉ bê tông hóa được 18,86 km trên tổng số 291,53 km, đạt tỷ lệ khiêm tốn 6,47%. Địa phương cần nguồn vốn rất lớn để xây mới và nâng cấp 272,67 km còn lại.

Huyện Phúc Thọ đã đạt được những kết quả cụ thể nào trong công tác lập quy hoạch xã nông thôn mới? Tính đến tháng 12/2012, Ủy ban nhân dân huyện Phúc Thọ đã phê duyệt 100% đồ án quy hoạch và đề án xây dựng nông thôn mới cho 22/22 xã, tạo lập hành lang pháp lý và định hướng không gian cho các dự án hạ tầng tiếp theo.

Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg tại địa phương đạt kết quả ra sao? Huyện đã tổ chức được 20 lớp đào tạo nghề cho 656 lao động với tổng kinh phí 1.389 triệu đồng, góp phần từng bước nâng cao trình độ kỹ thuật và tạo tiền đề giải quyết việc làm cho 2.700 lao động mỗi năm trên địa bàn.

Bài học kinh nghiệm quản lý nào từ các huyện điển hình có thể áp dụng hiệu quả tại huyện Phúc Thọ? Huyện cần học tập mô hình Đan Phượng trong việc hỗ trợ 100% vật tư để nhân dân tự làm đường ngõ xóm, đồng thời vận dụng kinh nghiệm của huyện Hải Hậu trong việc chia nhỏ các tiêu chí quốc gia thành tiêu chí xóm và hộ gia đình nông thôn mới.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng quản lý nhà nước trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Phúc Thọ giai đoạn 2009-2014, chỉ rõ các điểm nghẽn về hạ tầng và năng lực thực thi thể chế.
  • Khẳng định quy hoạch không gian, dồn điền đổi thửa và đào tạo nguồn nhân lực là các khâu đột phá nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp hàng hóa.
  • Đóng góp hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn phong phú, giúp các cơ quan quản lý hoàn thiện phương thức điều hành theo hướng công khai, minh bạch và dân chủ.
  • Xác định lộ trình hành động đến năm 2020 nhằm hoàn thành đồng bộ 19 tiêu chí quốc gia, nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng đời sống của nhân dân tại 22 xã, thị trấn.
  • Độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý hãy chủ động ứng dụng các giải pháp của luận văn vào thực tiễn quản lý điều hành để thúc đẩy công cuộc xây dựng nông thôn mới phát triển bền vững.