Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1. Khái niệm và sự cần thiết của quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp FDI 1. Khái niệ m quả n lý nhà nước đối với các doanh nghiệ p FDI Quản lý là một chức năng bắt nguồn từ tính xã hội của lao động trong điều kiện phát triển kinh tế, quản lý được xem là thước đo của hầu hết các hoạt động xã hội. Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay thì: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra.” [13, tr 85] “Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý.
Khái niệm quản lý được cho là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý.” Như vậy, có thể nói quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định. “Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào từng góc độ khoa học khác nhau, từng lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu.” QLNN là khái niệm mang nghĩa hẹp hơn, có chủ thể, đối tượng và mục tiêu quản lý cụ thể. “QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng 7 và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. [14, tr 407] Theo khái niệm trên, “QLNN mang tính chất quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Hay nói cách khác, QLNN là một chức năng của Nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt”. Trong đó, QLNN được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng: “QLNN là toàn bộ hoạt động chức năng của bộ máy nhà nước, bao gồm lập pháp, hành pháp, và tư pháp.” Theo nghĩa hẹp: QLNN chỉ có chức năng hành pháp. QLNN được đề cập trong đề tài này là khái niệm QLNN theo nghĩa hẹp, tức là quản lý hành chính nhà nước, mà đối tượng quản lý ở đây là các doanh nghiệp FDI. Như vậy, “QLNN đối với các doanh nghiệp FDI là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với hành vi hoạt động của con người, tổ chức trong các doanh nghiệp FDI theo pháp luật.” Đồng thời, các cơ quan QLNN nói chung còn thực hiện các hoạt động có “tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính Nhà nước”, có tổ chức, bằng pháp quyền và thông qua các chính sách với các công cụ quản lý nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp, thường xuyên đối với các doanh nghiệp FDI.
Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Doanh nghiệp FDI có nhiều loại hình và cách thức tổ chức hoạt động khác so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước. Do vậy, ngoài các đặc điểm chung của các doanh nghiệp trong nước, cần nhận thức rõ các đặc điểm hoạt động riêng của loại hình doanh nghiệp này, từ đó thấy được sự cần thiết phải tăng cường hiệu quả QLNN đối với chúng. Doanh nghiệp FDI có các đặc điểm cơ bản sau: + Mức vốn đầu tư trực tiếp: Tỷ lệ vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong vốn pháp định của dự án phải đạt mức độ tối thiểu tùy theo luật đầu tư của từng 8 nước quy định. Theo “Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định” chủ đầu tư nước ngoài phải góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án (trừ những trường hợp do chính phủ quy định), ở Hoa Kỳ quy định 10% và một số nước khác lại quy định là 20%.
+ Mức độ tham gia quản lý vốn: các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc tự mình quản lý, điều hành các dự án mà họ bỏ vốn vào đầu tư. “Quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của chủ đầu tư trong vốn pháp định của dự án”. Nếu nhà đầu tư nước ngoài góp 100% vốn trong vốn pháp định, thì doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của nhà đầu tư đó và cũng do họ quản lý toàn bộ. + Lợi ích của các bên: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh được phân chia cho các bên theo “tỷ lệ góp vốn vào vốn pháp định”, sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần (nếu có).
+ Mục đích hàng đầu của các doanh nghiệp FDI là tìm kiếm lợi nhuận. “Do vậy, các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển cần lưu ý điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư.” + Các doanh nghiệp FDI ngoài sự lưu chuyển của vốn thường kèm theo chuyển giao công nghệ. “Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý.” Tuy nhiên, nếu việc quản lý từ các cơ quan nhà nước không kỹ càng, không đủ trình độ để xét duyệt, thẩm định thì sẽ phải tiếp nhận những “công nghệ đã lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường” và những hệ lụy tiêu cực khác từ các doanh nghiệp FDI. Vì vậy, để giải quyết các vấn đề xung đột cơ bản trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa các doanh nghiệp FDI và bên nhận đầu tư, hay là làm thế nào để loại hình doanh nghiệp này hoạt động “có hiệu quả phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế 9 - xã hội của địa bàn tiếp nhận đầu tư”, cần thiết phải có sự QLNN từ phía địa phương nhận đầu tư đối với các doanh nghiệp FDI, cụ thể: Thứ nhất, QLNN đối với doanh nghiệp FDI để đảm bảo “các doanh nghiệp này hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật” của nước nhận đầu tư, tránh vì mục đích kiếm lời mà ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển chung của địa bàn tiếp nhận đầu tư.
Thứ hai, QLNN đối với các doanh nghiệp FDI còn nhằm giúp địa bàn nhận đầu tư thực hiện được các mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài trong quá trình phát triển chung, trong đó việc thu hút vốn, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài phải đặt lên hàng đầu như: “ưu tiên thu hút các dự án FDI có công nghệ hiện đại, tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, thân thiện với môi trường.” Thứ ba, QLNN đối với các doanh nghiệp FDI “đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế”, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, chú trọng, hiệu quả và tính bền vững của địa bàn nhận đầu tư. Thứ tư, QLNN đối với doanh nghiệp FDI có vai trò đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh, cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp dựa trên khuôn khổ của pháp luật nước nhận đầu tư. Thứ năm, QLNN đối với các doanh nghiệp FDI nhằm tạo môi trường pháp lý, môi trường chính trị, kinh tế - xã hội ổn định, những điều kiện cần thiết và thuận lợi cho sự ra đời và hoạt động kinh doanh có hiệu quả của doanh nghiệp FDI. Đồng thời nhằm bảo hộ sở hữu, “bảo vệ lợi ích hợp pháp của chủ đầu tư nước ngoài, khuyến khích họ hăng hái, yên tâm đầu tư, kinh doanh và hợp tác rộng rãi có hiệu quả với nhà đầu tư trong nước”.
Như vậy, để “các nhà đầu tư nước ngoài” tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước một cách bình đẳng, có hiệu quả; đồng thời các doanh nghiệp FDI hoạt động đúng định hướng, tác động tích cực đến đời sống chính trị, kinh tế - xã hội của địa bàn nhận đầu tư; ngăn ngừa và hạn chế đến mức thấp 10 nhất những ảnh hưởng tiêu cực, những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hợp tác đầu tư thì rất cần thiết phải có sự QLNN đối với các doanh nghiệp FDI. Đặc điểm quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp FDI 1. Chủ thể, đối tượng và khách thể của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp FDI Chủ thể của QLNN là các cơ quan nhà nước mà trước hết là các cơ quan QLNN, các “cán bộ công chức nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức và cá nhân được Nhà nước” trao quyền quản lý hành chính trong một số trường hợp cụ thể. Trong đó, chủ thể QLNN đối với các doanh nghiệp FDI là các “cán bộ công chức, tổ chức, cơ quan nhà nước” được trao quyền lực nhà nước để quản lý chung hay chỉ một lĩnh vực cụ thể đối với doanh nghiệp FDI.
Đối tượng của QLNN bao gồm tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia chịu sự quản lý của chủ thể QLNN. “Và đối tượng QLNN đối với các doanh nghiệp FDI tại một địa phương chính là các doanh nghiệp FDI thực hiện đầu tư, sản xuất, kinh doanh trên địa bàn đó.” Khách thể của QLNN là nhữ chủ thể , mong muốn thiết lập để đạt được mục tiêu quản lý : trật tự quản lý hành chính trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và hành vi, hoạt động của cá nhân, tổ chứ ằm thiết lập trậ .