Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO MỘT TỈNH 1. Tổng quan đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm và đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Ngày nay, FDI có vai trò vô cùng quan trọng, đã và đang trở thành hình thức đầu tư phổ biến và đã được định nghĩa bởi các tổ chức kinh tế quốc tế cũng như luật pháp của các quốc gia khác nhau như: Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): “FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"[33]. Theo Qũy tiền tệ thế giới (IMF) thì: “FDI là một tổ chức kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một DN đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý DN đặt tại nền kinh tế đó”[34].
Còn Tổ chức phát triển hợp tác kinh tế (OECD) chỉ rõ rằng: “một DN FDI là việc một DN có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó một nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết”[35]. Đặc điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty. Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia sử dụng mức 10% để làm mốc xác định FDI. Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong DN của nhà ĐTNN nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc tỷ lệ sở hữu lớn hơn nhưng vẫn chỉ là nhà đầu tư gián tiếp.
Do vậy, các khái niệm FDI do các tổ chức khác nhau đưa ra cũng có thể khác nhau. Trong một định nghĩa khác của Ngân hàng Thế giới (WB):“FDI là việc công dân của một nước thành lập hoặc mua lại một phần đáng kể sở hữu vàquản lý ít nhất là 10% vốn chủ sở hữu của DN ở một nước khác”[35]. Các nhà ĐTNN có thể là cá 7 nhân hoặc DN và hoạt động đầu tư có thể do người nước ngoài sở hữu hoàn toàn hoặc liên doanh giữa nhà ĐTNN và các đối tác đầu tư địa phương. Theo Luật ĐTNN năm 1996 của Việt Nam thì định nghĩa như sau: “FDI là việc nhà ĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”[25].
Tuy nhiên, sau khi sửa đổi Luật đầu tư 2005 không có định nghĩa cụ thể về FDI nhưng theo khoản 2 và khoản 12, điều 3 định nghĩa: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”.“ĐTNN là việc nhà ĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”[26]. Và tại Luật Đầu tư năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2020 không quy định chi tiết về FDI, nhưng tại khoản khoản 19 Điều 3 đưa ra khái niệm “Nhà đầu tư nước ngoài là: cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”[27]. Như vậy, từ các quan điểm đã nêu ở trên, tác giả hiểu một cách khái quát FDI như sau: FDI là việc nhà ĐTNN đưa vốn bằng tiền hay tài sản khác vào nước nhận đầu tư để trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận. Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI với tư cách là xuất khẩu tư bản trực tiếp có những đặc điểm chung của hoạt động đầu tư là mục tiêu lợi nhuận cao, song cũng có nét đặc thù: Một là, FDI gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp.
Nguồn vốn và công nghệ của nước ngoài được đem đến để xây dựng nhà máy, xí nghiệp, do đó nguồn vốn bị chôn chặt và không dễ dàng dịch chuyển từ ngành này sang ngành khác, từ vùng, quốc gia này sang vùng, quốc gia khác. FDI thường được đánh giá là nguồn vốn tương đối ổn định, ít gây ảnh hưởng xấu đối với tình hình kinh tế vĩ mô của các nước tiếp nhận, do đó thường được các nước đang phát triển chú trọng quan tâm thu hút và sử dụng. Hai là, chủ thể của FDI là các chủ thể tư nhân, mục tiêu đầu tư là lợi nhuận cao, do đó FDI thường xuất hiện tại các nước tiếp nhận sau hình thức đầu tư gián tiếp của chính phủ nước xuất khẩu, khi các điều kiện SXKD đã được xác lập tương đối đồng bộ, thuận lợi. Đồng thời, FDI luôn tập trung vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn có môi trường kinh doanh thuận lợi.
8 Ba là, FDI thường sử dụng công nghệ khác biệt nhằm tận dụng lợi thế trong phân công lao động quốc tế để giảm chi phí, giảm sức ép cạnh tranh từ phía các DN của nước tiếp nhận FDI. Bốn là, nguồn vốn FDI là vốn đầu tư phát triển dài hạn, trực tiếp từ bên ngoài vì vậy đối với nước tiếp nhận đầu tư thì đây chính là nguồn vốn dài hạn bổ sung hết sức cần thiết trong nền kinh tế. Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài Để thuận lợi trong việc nghiên cứu và quản lý các hoạt động ĐTNN nói chung và FDI nói riêng thì hoạt động ĐTNN được xác định các hình thức thông qua việc phân loại theo các tiêu chí khác nhau, cụ thể. * Phân theo hình thức đầu tư, phân theo hình thức đầu tư thì hai hoạt động FDI được phân thành: + Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: đây là một văn bản được ký kết giữa một chủ ĐTNN và một chủ đầu tư trong nước (nước nhận đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp nhân mới nào.
Hình thức FDI này có đặc điểm: - Cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký kết gia các bên về sự phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ. - Không thành lập một pháp nhân mới, tức là không cho ra đời một công ty mới. - Thời gian của hợp đồng hợp tác kinh doanh do hai bên thoả thuận, phù hợp với tính chất hoạt động kinh doanhvà sự cần thiết để hoàn thành mục tiêu của hoạt đồng. - Vấn đề vốn kinh doanh không nhất thuyết phải được đề cập trong văn bản hợp đồng hợp tác kinh doanh.
+ Hình thức công ty hay xí nghiệp liên doanh: xí nghiệp và công ty liên doanh được thành lập giữa một bên là một thành viên của nước nhận đầu tư và một bên là các chủ đầu tư ở nước khác tham gia. Một xí nghiệp liên doanh có thể gồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh. Điểm của hình thức liên doanh này là: - Cho ra đời một công ty hay một xí nghiệp mới, với tư cách pháp nhân mới và được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn. 9 - Thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức quan lý của công ty, xí nghiệp kinh doanh được quy định tuy thuộc vào luật pháp cụ thể của mỗi nước.
- Các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh, đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi ra theo tỷ lệ góp vốn. + Hình thức công ty hay xí nghiệp 100% vốn từ nước ngoài: Đây là hình thức các công ty hay xí nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Đăc điểm của các công ty này là: Được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là một pháp nhân mới ở nước nhận đầu tư. + Các hình thức khác: Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế, thực hiện những hợp đồng xây dựng – vận hành – chuyển giao (B.T thường được chính phủ các nước đang phát triển tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế.
* Phân theo bản chất đầu tư Theo bản chất đầu tư thì hoạt động FDI được chia thành các hình thức: + Đầu tư phương tiện hoạt động: là hình thực FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào. + Mua lại và sáp nhập: Là hình thức FDI sáp nhập vào nhau hoặc một DN này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một DN có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn đến tăng khối lượng đầu tư vào.
* Phân theo tính chất dòng vốn Theo cách này thì FDI được chia thành: + Vốn chứng khoán: Nhà ĐTNN có thể mua cổ phần do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty. + Vốn tái đầu tư: DN có vốn FDI có thể dụng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm. 10 + Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu DN của nhau. * Phân theo động cơ của nhà đầu tư Với động cơ của nhà đầu tư thì FDI được phân loại thành: + Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khái thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khái thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào.