Đặt vấn đề Từ năm 1962 tới nay, công tác Dân số Kế hoạch hóa gia đình đạt nhiều thành tích đáng ghi nhận, đặc biệt là đã góp phần đưa tỷ lệ tăng dân số 2%0/năm 1990 xuống còn 1%0/năm vào năm 2018. Tại nước ta, 1 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có số con trung bình đã giảm đáng kể, nếu như năm 1980 là 7con/1 phụ nữ thì tới năm 2017 còn 2,07 con, tiến tới mức sinh thay thế 2,1 con/ phụ nữ. Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ đã có hiểu biết và sử dung các biện pháp kế hoạch hóa gia đình nhất là các biện pháp tránh thai hiện đại đã tăng từ 39% năm 2001 lên 68% năm 2017. Việc sử dụng các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đã đem đến nhiều lợi ích đó là giảm mức sinh, ổn định dân số, tỷ lệ tử vong mẹ do nạo phá thai giảm, các cặp vợ chồng định hướng được số con và khoảng cách giữa các lần sinh hợp lý.
Đạt được thành quả đó chính là có sự đổi mới toàn diện về bộ máy quản lư và đội ngữ cán bộ làm công tác Dân số - KHHGĐ nhất là đội ngũ cán bộ thực hiện quản lý và cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình các cấp, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và các Mục tiêu phát. triển bền vững của Liên hợp quốc Ước tính chương trình KHHGĐ đã tiết kiệm chi phí cho các dịch vụ xã hội, tăng GDP bình quân đầu người khoảng 2%/năm. Ngay từ năm 2962 tới nay, K.Đ là một mục tiêu về lĩnh vực kinh tế xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển bền vững của đất nước, khi bắt đầu chương trình K.Đ đến năm 2011, nước ta đã thực hiện bao cấp toàn bộ việc cung cấp dịch vụ dân số, trong đó gồm cả dịch vụ kế hoạch hóa gia đình. Kinh tế phát triển, mức sống dân cư và chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao kéo theo nhu cầu ngày càng gia tăng về chăm sóc y tế.
Với nguồn ngân sách hạn chế, Nhà nước không thể bao cấp hết mọi đối tượng và mọi hoạt động của lĩnh vực này. hội hóa trong cung cấp dịch vụ K.Đ là một trong những giải pháp vừa nhằm giảm dần việc bao cấp và hỗ trợ từ Nhà nước vừa đảm bảo hoàn thành mục 3 tiêu xã hội của công tác dân số - K.Năm 2006, tại Hội nghị Tổ chức Thương mại Thế giới tháng 11, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại.Với tư cách là thành viên WTO, Việt Nam.phải điều chỉnh. các chính sách về dịch vụ công, trong đó tự do thương mại và tư nhân hóa, là đòi hỏi của WTO. Đây vừa là là cơ hội vừa là thách thức đối với cung cấp dịch vụ y tế nói chung và dịch vụ KHHGĐ nói riêng.
Thương mại hóa và tư nhân hóa các dịch vụ công về y tế sẽ được mở rộng.Điều đó đồng nghĩa với việc mục tiêu xã hội của các dịch vụ công về y tế sẽ có chiều hướng ảnh hưởng nhiều hơn bởi mục tiêu lợi nhuận.Việt Nam đang nỗ lực cải thiện chất lượng các dịch vụ công thông qua định hướng tăng.trách nhiệm và huy động nguồn lực của toàn xã hội. Cao Bằng là một tỉnh miền núi đời sống người dân còn khó khăn, có đến 40%/ dân số thuộc hộ nghèo và dân số thuộc vùng xâu vùng xa mức sinh cao.Cao Bằng có nhiều dân tộc với bản sắc văn hóa, phong tục tập quán và trình độ dân trí khác nhau, đó là những yếu tố đặc thù gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế xã hội nói chung trong đó có công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (D.Những năm gần đây nhờ có sự quan tâm chỉ đạo và nỗ lực của các cấp ủy Đảng, chính quyền và sự nỗ lực tự vận động của mạng lưới cung cấp dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình (DV-K.Đ) các cấp, tỷ suất sinh từ 45%0 năm 1992 xuống 18%0 năm. Nhận thức của các tầng lớp nhân dân tại tỉnh Cao Bằng, sau 50 năm thực hiện chính sách DS-KHHGĐ với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của cấp ủy Đảng, chính quyền, sự cố gắng nỗ lực của đội ngũ cán bộ làm công tác dân số,người dân đã nhận thức được về vai trò của dân số và sự cần thiết phải thực hiện kế hoạch hóa gia đình đối với sự ổn định bền vững đã có sự chuyển biến rõ rệt. Các mục tiêu về DS-KHHGĐ đã đạt được những thành tựu quan trọng (từ năm 1989 đến năm 2009, tỷ lệ phát triển DS tự nhiên giảm từ 2,49% xuống còn 1,02%, tỷ xuất sinh giảm từ 39%o xuống 9,0%o năm 2018; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm từ 46% xuống còn 19%, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai tăng từ 22,51% lên 70,1%) 4 Hiện nay cũng như các địa phương trên cả nước, hoạt động triển khai dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình không còn ở chế độ cung cấp miễn phí cho mọi đối tượng như trước nữa, đã chuyển sang hình thức xã hội hóa để đáp úng như cầu sử dụng các dịch vụ KHHGĐ có chất lượng cao dành cho người dân và giảm áp lực ngân sách nhà nước.
Với thói quen bao cấp đã tồn tại nhiều năm của người dân về việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, việc triển khai dịch vụ kế hoạch hóa gia đình trong tình hình mới đề ra nhiều vấn đề bất cập. Để triển khai thành công dịch vụ kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh rất cần sự tăng cường quản lý dịch vụ kế hoạch hóa gia đình của các cơ quan chức năng, đặc biệt là của Chi cục Dân số-KHHGĐ, đơn vị chuyên trách quản lý dịch vụ kế hoạch hóa gia đình toàn tỉnh Với vai trò là một công chức đang công tác tại phòng Dân số và Phát triển của Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Cao Bằng, tôi thực hiện nghiên cứu về công tác quản lý dịch vụ kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh, từ đó đề ra các giải pháp để tăng cường công tác quản lý dịch vụ kế hoạch hóa gia đình tại tỉnh Cao Bằng qua luận văn thạc sỹ Quản lý Kinh tế và Thương mại " Tăng cƣờng quản lý của Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Cao Bằng đối với dịch vụ kế hoạch hóa gia đình" 2) Mục tiêu nghiên cứu Qua luận văn nghiên cứu nhằm đưa ra mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể như sau: - Mục tiêu tổng quát: Đưa ra các giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với dịch vụ kế hoạch hóa gia đình hiện nay trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh Cao Bằng đối với dịch vụ kế hoạch hóa gia đình góp phần giảm mức sinh ở những vùng có mức sinh cao, giữ ổn định mức sinh trên toàn tỉnh, cung cấp cho người dân hưởng các lợi ích về dịch vụ kế hoạch hoá gia đình trong thời gian tới năm 2025. - Mục tiêu cụ thể: 5 - Đưa ra giải pháp nhằm tăng cường công tác tham mưu tham mưu, ban hành văn bản chính sách pháp luật của Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Cao Bằng về Dịch vụ kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh. - Đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác tổ chức thực hiện dịch vụ kế hoạch hóa gia đình hiện nay của Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh Cao Bằng - Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao kết quả thực hiện, và chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình để cung cấp kịp thời đầy đủ, chất lượng cho khách hàng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng - Đưa ra các giải pháp, đề xuất các chính sách, chiến lược về dịch vụ kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh Cao Bằng hướng đến mục tiêu xã hội hóa dịch vụ kế hoạch hóa gia đình trong thời gian tới.
- Tăng cường hiệu quả của công tác tổ chức thực hiện dịch vụ kế hoạch hóa gia đình hiện nay của Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh Cao Bằng 3) Nhiệm vụ nghiên cứu -Từ việc vận dụng tổng quan khung lý thuyết về dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, các lý thuyết về quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về Dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình và qua các số liệu trong Báo cáo hàng năm của Chi cục Dân số-KHHGĐ, qua nghiên cứu các văn bản chính sách chiến lược về công tác quản lý nhà nước về dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, tôi tiến hành phân tích thực trạng công việc quản lý dịch vụ kế hoạch hóa gia đình hiện nay tại Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Cao Bằng để từ đó rút ra các mặt mạnh yếu, nguyên nhân kết quả của công tác quản lý hiện nay với các nhiệm vụ sau - Đưa ra giải pháp nhằm tăng cường công tác tham mưu tham mưu, ban hành văn bản chính sách pháp luật của Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Cao Bằng về Dịch vụ kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh. - Đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác tổ chức thực hiện dịch vụ kế hoạch hóa gia đình hiện nay của Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh Cao Bằng - Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao kết quả thực hiện, và chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình để cung cấp kịp thời đầy đủ, chất lượng cho khách hàng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 6 - Đưa ra các giải pháp, đề xuất các chính sách, chiến lược về dịch vụ kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh Cao Bằng hướng đến mục tiêu xã hội hóa dịch vụ kế hoạch hóa gia đình trong thời gian tới.