Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1. Cơ sở lý luận về dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ 1. Đặc điểm và vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ 1. Khái niệm Bản chất của bảo hiểm nói chung đó là sự san sẻ rủi ro của số đông các cá nhân và tổ chức trong xã hội thông qua hoạt động của các công ty bảo hiểm.
Xét định nghĩa bảo hiểm theo một khái niệm chung nhất thì: “Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm” [4;tr. Bảo hiểm phi nhân thọ (BHPNT) là một trong hai loại hình bảo hiểm thương mại (BHTM). Bảo hiểm thương mại (BHTM) là loại hình bảo hiểm hiện nay được triển khai rộng rãi ở khắp các nước trên thế giới. Sự ra đời và phát triển của BHTM gắn liền với cuộc đấu tranh để sinh tồn của con người trước những nguy cơ rủi ro có thể xảy ra bất kỳ lúc nào gây thiệt hại không những về của cải vật chất mà còn đến cả tính mạng, sức khỏe con người.
Kể từ khi hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) quốc tế đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử ngành bảo hiểm vào ngày 23/10/1347 tại Genoa, Italia, ngành BHTM thế giới đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Từ loại hình bảo hiểm truyền thống ban đầu là bảo hiểm hàng hải, ngành bảo hiểm đã phát triển thêm nhiều loại hình bảo hiểm mới nhằm đáp ứng nhu cầu “an toàn” của con người như bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm hàng không…. Hiện nay trên thị trường BHTM đã có tới hàng trăm loại hình bảo hiểm và được phân chia thành các nhóm khác nhau tùy theo mục đích và ý nghĩa nghiên cứu. Trong đó, BHTM có thể được chia thành hai nhóm lớn, đó là: Bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ.
Sở dĩ có sự phân chia như vậy là do các công ty bảo hiểm phân loại BHTM để quản lý trên cơ sở lịch sử ra đời của các nghiệp vụ bảo hiểm. Ví dụ: Bảo hiểm hàng hải được coi là ra đời sớm nhất và là nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống của các công ty bảo hiểm. Vì vậy, thời kỳ đầu, các công ty bảo hiểm thường phân chia BHTM thành bảo hiểm hàng hải (bao gồm: bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm thân tài 5 và Hội bảo hiểm P/I) và bảo hiểm phi hàng hải (bao gồm tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm còn lại). Sau này, với sự phát triển của ngành BHTM, nhiều nghiệp vụ bảo hiểm mới được ra đời như bảo hiểm cháy, bảo hiểm con người, bảo hiểm xây dựng lắp đặt… Và đặc biệt với sự ra đời của bảo hiểm nhân thọ vào cuối thế kỷ XIX với kỹ thuật bảo hiểm riêng.
Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) là loại hình bảo hiểm con người, bảo hiểm cho những rủi ro liên quan đến tuổi thọ của con người bao gồm hai sự kiện sống và chết. Do BHNT có thời hạn bảo hiểm dài, vừa mang tính rủi ro, vừa mang tính tiết kiệm, kỹ thuật nghiệp vụ được áp dụng trong BHNT là kỹ thuật tồn tích. Bảo hiểm phi nhân thọ (BHPNT) là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ. BHPNT do chỉ mang tính rủi ro nên được áp dụng kỹ thuật phân chia.
Nói một cách dễ hiểu thì, trong khi BHNT là loại bảo hiểm thường gắn với tuổi thọ con người, thì BHPNT là một thể loại rộng hơn, bao gồm về cả con người và mọi thứ khác. Hiện nay có những công ty chuyên kinh doanh về BHNT, hoặc chuyên kinh doanh về BHPNT, hoặc nếu kinh doanh cả hai loại hình thì phải tổ chức hạch toán riêng biệt. Đặc điểm của bảo hiểm phi nhân thọ (BHPNT) Nhìn chung, BHPNT có những đặc điểm cơ bản sau: - BHPNT chỉ nhận bảo hiểm cho những rủi ro mang tính chất thiệt hại mà không có tính chất tiết kiệm như trong BHNT. Có nghĩa là trong BHPNT, chỉ khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra gây thiệt hại cho đối tượng bảo hiểm thì mới được bảo hiểm bồi thường.
Khoản phí bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm đã đóng sẽ không được trả lại nếu không có rủi ro xảy ra, và không được coi như một khoản tiền tiết kiệm. - BHPNT có thời hạn bảo hiểm thường là ngắn từ 1 năm trở xuống. Thậm chí có những nghiệp vụ bảo hiểm thời hạn bảo hiểm chỉ trong vòng vài tháng, vài ngày hay vài giờ như bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm du lịch hay bảo hiểm tai nạn hành khách. Khác với BHNT thời hạn bảo hiểm có thể là 5 năm, 10 năm hoặc thậm chí là suốt đời.
- Bảo hiểm con người phi nhân thọ áp dụng kỹ thuật phân chia trong việc quả lý quỹ tài chính bảo hiểm, khác với BHNT áp dụng kỹ thuật tồn tích. Điều này xuất 6 phát từ đặc điểm BHPNT là chỉ bảo hiểm cho rủi ro mang tính chất thiệt hại và thời hạn bảo hiểm ngắn. Sự khác nhau giữa ký thuật phân chia và kỹ thuật tồn tích được thể hiện trong việc lập dự phòng nghiệp vụ của BHPNT khác với BHNT. Cụ thể trong BHPNT là lập dự phòng phí và trong BHNT là lập dự phòng toán học.
- Theo cách phân loại BHTM theo đối tượng bảo hiểm, bảo hiểm con người bao gồm: Bảo hiểm tài sản, BH trách nhiệm dân sự và BH con người phi nhân thọ. Vai trò của BHPNT Là một công cụ nhằm đối phó với những khó khăn tài chính do rủi ro gây ra cho con người, BHTM nói chùng và BHPN nói riêng có vai trò to lớn không chỉ đối với các cá nhân tổ chức mà với toàn xã hội nói chung [13], [34], [35]: - BHPNT góp phần ổn định đời sống kinh tế, từ đó ổn định về mặt tinh thần, cho các cá nhân và tổ chức trong xã hội khi không may gặp phải rủi ro. Điều đó được dựa trên cơ sở bảo hiểm bù đắp những thiệt hại tài chính do rủi ro gây ra. Đặc biệt, khi tổn thất xảy ra có mức độ và quy mô lớn, ý nghĩa của bảo hiểm lại càng được nhân lên gấp nhiều lần.
- BHPNT góp phần làm giảm “tổng rủi ro” của xã hội, đảm bảo cho xã hội có một quỹ tài chính đủ lớn và chủ động đối phó với rủi ro. Rủi ro là ngẫu nhiên và bất ngờ. Với mỗi cá nhân hay tổ chức thật khó có thể xác định được rủi ro có xảy ra với họ hay không và mức độ thiệt hạ là như thế nào. Do đó họ khó có thể chủ động có kế hoạch tài chính để đối phó đầy đủ với thiệt hại do rủi ro gâu ra.
Tuy nhiên với số đông người tham gia bảo hiểm, xác suất rủi ro có thể tính được tương đối chính xác trên cơ sở quy luật số lớn. Từ đó một kế hoạch tài chính thông qua thu phí bảo hiểm để bù đắp thiệt hại do rủi ro gây ra là có thể thực hiện được, bảo đảm cho xã hội chủ động đối phó với những hậu quả của rủi ro - BHPNT tạo điều kiện gần như tốt nhất cho sản xuất thông qua việc ổn định giá cả và cấu trúc giá. Những thiệt hại tài chính do rủi ro bất ngờ gây ra chắc chắn sẽ đẩy chi phí của doanh nghiệp lên. Khi đó nếu tăng giá lên để giữ nguyên lợi nhuận doanh nghiệp sẽ mất vị thế cạnh tranh về giá.
Ngược lại nếu giữ nguyên giá để cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ mất đi một phần lợi nhuận. Tác động này sẽ rất lớn nếu giá trị thiệt hại là lớn. Trong trường hợp này rõ ràng bảo hiểm là “tấm lá chắn” rất tốt cho 7 các doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, điều này càng có ý nghĩa lớn lao vì vốn của họ thường là hạn chế, dễ bị các doanh nghiệp lớn chèn ép về giá.
- BHPNT là một kênh cung cấp vốn đáng kể cho nền kinh tế. Điều này xuất phát từ bản chất của BHTM là một dịch vụ tài chính. Do có “sự đảo ngược của chu kỳ kinh doanh”, các công ty bảo hiểm thu phí bảo hiểm trước, nhưng sau đó (có thể sau vài ngày, vài tuần, vài tháng, vài năm hoặc thậm chí vài chục năm) mới phải sử dụng tiền này để bồi thường. Chính vì vậy xét trên khía cạnh kinh tế, chắc chắn các công ty bảo hiểm cần đầu tư trở lại nền kinh tế tiền phí bảo hiểm này để thu lời.
Do bảo hiểm tuân theo quy luật số lớn, phải có số đông người tham gia bảo hiểm nên quỹ tài chính huy động từ phí bảo hiểm của các công ty bảo hiểm là rất lớn, trong thực tế chỉ sau các Ngân hàng thương mại. Ở các nước có thị trường bảo hiểm phát triển như Mỹ, ngành bảo hiểm cung cấp tới trên 10% vốn đầu tư trên thị trường vốn. - BHPNT thực hiện các hoạt động giám sát tổn thất quan trọng, giúp phòng tránh và giảm thiểu rủi ro, tổn thất xảy ra cho toàn xã hội. Xuất phát từ lời ích của bản thân doanh nghiệp bảo hiểm, để giảm mức độ tổn thất xảy ra do rủi ro bất ngờ, các doanh nghiệp thường xuyên tiến hành các hoạt động đề phòng và hạn chế tổn thất.
Và rõ ràng xét trên phạm vi toàn xã hội những hoạt động này cũng có ý nghĩa rất lớn lao. Ngoài ra, còn có thể kể tới rất nhiều vai trò khác của bảo hiểm như góp phần tăng cường mối quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các nước, tạo công ăn việc làm, tăng GDP, góp phần đảm bảo an sinh xã hội [14] … 1. Phân loại bảo hiểm phi nhân thọ Theo tiêu thức dựa trên đối tượng bảo hiểm, BHPNT được chia thành: Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người phi nhân thọ [13] [21]. Bảo hiểm tài sản Do đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm tài sản là tài sản nên loại hình bảo hiểm này có những đặc điểm cơ bản sau: - Số tiền bảo hiểm, thể hiện giới hạn trách nhiệm bồi thường của bảo hiểm, bị giới hạn bởi giá trị thực tế của tài sản được bảo hiểm.
Giá trị thực tế của tài sản được gọi là giá trị bảo hiểm. Giá trị bảo hiểm thông thường được xác định bằng giá trị của tài sản tại thời điểm mua bảo hiểm.