CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHI PHÍ VÀ QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về chi phí sản xuất kinh doanh Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải luôn luôn quan tâm đến việc quản lý chi phí, vì mỗi đồng chi phí bỏ ra đều có ảnh hưởng đến lợi nhuận. Vì vậy, vấn đề quan trọng được đặt ra cho nhà quản trị doanh nghiệp là phải kiểm soát được chi phí của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất. Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của một doanh nghiệp là tạo ra những sản phẩm nhất định và tiêu thụ những sản phẩm đó trên thị trường nhằm thu được lợi nhuận. Nhưng bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì cũng đều phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định [19].
Các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra trước hết là các chi phí cho việc sản xuất sản phẩm. Trong khi tiến hành sản xuất, các doanh nghiệp phải tiêu hao các vật tư như: Nguyên vật liệu, hao mòn máy móc, thiết bị, các công cụ dụng cụ, các khoản chi phí về tiền lương hay tiền công cho người lao động. Như vậy, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về vật chất và lao động mà các doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định. Các chi phí này phát sinh có tính chất thường xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm nên gọi là chi phí sản xuất của doanh nghiệp [19].
Doanh nghiệp ngoài việc sản xuất, chế biến còn phải tổ chức tiêu thụ sản phẩm. Trong quá trình này doanh nghiệp cũng phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định như: Chi phí về bao bì đóng gói sản phẩm, chi phí vận chuyển, bảo quản. Ngoài ra để giới thiệu rộng rãi sản phẩm cho người tiêu dùng, cũng như để hướng dẫn người tiêu dùng hoặc thăm dò khảo sát thị trường nhằm đề ra những quyết định có tính chất tối ưu đối với việc sản xuất thì doanh nghiệp cũng phải bỏ ra các chi phí về nghiên cứu, tiếp thị, 5 quảng cáo, giới thiệu hay bảo hành sản phẩm. Ngoài những chi phí sản xuất và chi phí sinh hoạt, trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp còn bỏ ra những khoản chi phí phục vụ cho những hoạt động của bộ máy quản lý doanh nghiệp có liên quan đến quá trình kinh doanh [19].
Như vậy, nhìn từ góc độ doanh nghiệp, có thể thấy chi phí sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là toàn bộ chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm, chi phí quản lý doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh và các khoản thuế gián thu mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định [19]. Để đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh tốt đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có doanh thu từ hoạt động kinh doanh bù đắp, trang trải được toàn bộ chi phí kinh doanh và thu được lợi nhuận cao. Điều này cho thấy không phải khoản mục chi phí nào cũng được đưa vào chi phí hoạt động mà chúng ta phải xét đến tính chất, đặc điểm của nó. Chi phí sản xuất kinh doanh kinh doanh là một chỉ tiêu quan trọng.
Qua xem xét chỉ tiêu này có thể đánh giá được trình độ quản lý kinh doanh, tình hình sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận mà lợi nhuận là mục tiêu kinh doanh, mục đích cuối cùng của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến vấn đề quản lý chi phí sản xuất kinh doanh, bởi lẽ mỗi đồng chi phí không hợp lý đều làm tăng giá thành sản phẩm, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Do đó, hạ thấp chi phí sản xuất kinh doanh là một điều kiện để doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình và đảm bảo cho sự tồn tại và đi lên của doanh nghiệp [19].2 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh Chi phí được nhà quản trị sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau.
Do vậy, chi phí được phân loại theo nhiều cách, tùy theo mục đích sử dụng của nhà quản trị trong từng quyết định. Nhận định và thấu hiểu cách phân loại và ứng sử của từng loại chi phí là chìa khóa của việc đưa ra những quyết định đúng đắn trong quá trình tổ chức điều hành hoạt động 6 kinh doanh của nhà quản trị doanh nghiệp.1 Phân loại chi phí theo yếu tố chi phí Theo cách phân loại này căn cứ vào tính chất, nội dung kinh tế phát sinh của chi phí sản xuất khác nhau để chia ra các yếu tố chi phí, chỉ bao gồm những chi phí có cùng nội dung kinh tế mà không phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu? Mục đích sử dụng vào việc gì? Tác dụng như thế nào? Hay còn gọi là chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố. Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ được chia thành các yếu tố sản xuất như sau: - Chi phí nguyên nhiên vật liệu, động lực: Bao gồm các chi phí như nguyên liệu, vật liệu chính, nhiên liệu, động lực mà doanh nghiệp sử dụng trong kỳ. - Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ số tiền lương, tiền công phải trả, tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của cán bộ công nhân viên chức hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ chi phí trích khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp trong kỳ. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp đã chi trả về các loại dịch vụ mua ngoài như tiền điện, nước, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm các chi phí khác ngoài các khoản chi phí trên được chi trực tiếp bằng tiền. Cách phân biệt loại này cho chúng ta biết kết cấu tỷ trọng của từng loại chi phí trong tổng chi phí để phân tích đánh giá và tổng hợp, lập dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch bố trí lao động và quỹ lương, nhu cầu vốn lưu động.2Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động Tác dụng của cách phân loại chi phí theo chức năng hoạt động là: 7 - Cho thấy vị trí, chức năng hoạt động của chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp.
- Là căn cứ để xác định giá thành sản phẩm và tập hợp chi phí. - Cung cấp thông tin có hệ thống cho việc lập báo cáo tài chính. Chi phí sản xuất Khái niệm: Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí có liên quan đến việc chế tạo sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ phục vụ trong một kỳ nhất định. Chi phí sản xuất gồm ba khoản mục cơ bản như sau: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp - Chi phí nhân công trực tiếp - Chi phí sản xuất chung Như vậy, chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí cần thiết để chế tạo sản phẩm hoặc dịch vụ, những loại chi phí khác không gắn liền với việc sản xuất sản phẩm hay dịch vụ thì không được xếp vào loại chi phí sản xuất, thí dụ như tiền hoa hồng bán hàng, chi phí văn phòng phẩm.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Khái niệm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là chi phí của những loại nguyên vật liệu mà cấu tạo thành thực thể của sản phẩm, có giá trị và có thể xác định được một cách tách biệt rõ ràng và cụ thể cho từng sản phẩm. Ngoài nguyên vật liệu trực tiếp còn có nguyên vật liệu gián tiếp. Nguyên liệu gián tiếp là những nguyên liệu có tham gia vào việc cấu thành thực thể của sản phẩm nhưng giá trị nhỏ và không thể xác định rõ ràng cho từng sản phẩm. Nguyên liệu gián tiếp cũng còn là những nguyên vật liệu được dùng kết hợp với nguyên vật liệu chính nhằm làm tăng thêm chất lượng, vẻ đẹp của sản phẩm hoặc để tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được thuận lợi như chất xúc tác, dầu mỡ.
Ngoài ra nhiên liệu cũng được xếp vào nhóm nguyên vật liệu tiêu dùng trong quá trình sản xuất, tuy rằng hình thái hiện vật 8 của chúng không tham gia vào thực thể thành phẩm mà chỉ tạo ra năng lượng để phục vụ cho sản xuất như than, điện. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể xác định cho từng đơn vị sản phẩm nên được tính thẳng vào từng đơn vị sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp không thể xác định tách biệt cho từng đơn vị sản phẩm nên không thể tính trực tiếp vào từng đơn vị sản phẩm mà đưa vào chi phí sản xuất chung rồi phân bổ sau. Chi phí nhân công trực tiếp: Khái niệm: Chi phí nhân công trực tiếp là chi phí thanh toán cho công nhân trực tiếp vận hành dây chuyền sản xuất tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ phục vụ.
Khả năng và kỹ năng của lao động trực tiếp có ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sản phẩm hay dịch vụ cung cấp. Chi phí nhân công trực tiếp giống như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, có thể xác định rõ ràng cụ thể và tách biệt cho từng đơn vị sản phẩm nên được tính thẳng vào từng đơn vị sản phẩm. Ngoài chi phí nhân công trực tiếp còn có chi phí lao động gián tiếp. Lao động gián tiếp là những lao động không trực tiếp tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ nhưng cần thiết cho quá trình sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất của lao động trực tiếp.
Lao động gián tiếp không làm ra sản phẩm nhưng không thể thiếu được trong quá trình sản xuất ví dụ quản đốc phân xưởng, nhân viên bảo trì máy móc thiết bị…Chi phí thanh toán cho lao động gián tiếpkhông thể phân bổ cho bất kỳ sản phẩm cá biệt nào nên phải đưa vào chi phí sản xuất chung để phân bổ sau. Ngoài ra trong cơ cấu chi phí lao động, còn có các khoản mục chi phí cũng thuộc vào chi phí lao động như: Chi phí của thời gian ngừng sản xuất, chi phí giờ phụ trội, chi phí phúc lợi lao động.