CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH CHO HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Cơ sở lý luận về khoa học và công nghệ 1. Các khái niệm và vai trò của khoa học và công nghệ 1. Khái niệm về khoa học Trong Luật Khoa học và công nghệ Việt Nam năm 2013 có định nghĩa: “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy”.
Chức năng của khoa học luôn tồn tại ở hai cấp độ, đó là, nhằm thúc đẩy sự ham hiểu biết và nhằm gia tăng nhu cầu, nhưng đôi khi hai cấp độ này lại tương tác với nhau theo những cách rất đáng ngạc nhiên. Ví dụ như trường hợp kính viễn vọng của Galileo, ban đầu đơn thuần đó là một nghiên cứu khoa học thuần túy, tuy nhiên, sau đó được phát triển và ứng dụng hình thành các sản phẩm khác nhau trong rất nhiều ngành khoa học như hải dương học, thiên văn học, khoa học vũ trụ,… Tùy theo mục đích sử dụng, khoa học có nhiều cách tiếp cận. Khái niệm khoa học được định nghĩa theo một số cách tiếp cận sau đây: - Khoa học là một hệ thống tri thức: tức là hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy. Hệ thống tri thức ở đây là hệ thống tri thức khoa học, được xem như một sản phẩm trí tuệ được tích lũy trong hoạt động tìm tòi, sáng tạo thông qua các phương pháp của người nghiên cứu để đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng; - Khoa học là một hình thái ý thức xã hội: Theo cách tiếp cận này thì khoa học là phương diện tinh thần xã hội mang đối tượng và hình thức phản ánh với chức năng xã hội riêng biệt với các hình thái ý thức xã hội khác; - Khoa học là một thiết chế xã hội: Với tư cách là một thiết chế xã hội, 7 khoa học thâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động xã hội và thực hiện chức năng của một thiết chế xã hội.
Khoa học được coi là chuẩn mực trong các hoạt động, trong các lĩnh vực; - Khoa học là một hoạt động xã hội: tức là khoa học đã trở thành một nghề nghiệp mang những đặc trưng riêng của nó như việc đi tìm tòi, sáng tạo, đồng thời cũng chấp nhận gặp nhiều rủi ro. Khái niệm về công nghệ Trong Luật KH&CN Việt Nam năm 2013 có định nghĩa: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”. Xét theo phương diện KH&CN luận thì “Công nghệ có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép,…) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ”. (Trịnh Ngọc Thạch, 2009) Như vậy, có thể khái quát về khái niệm công nghệ một cách tổng quát như sau: Công nghệ là hệ thống các giải pháp được tạo nên bởi sự ứng dụng các kiến thức khoa học, được sử dụng để giải quyết một hoặc một số nhiệm vụ thực tiễn trong sản xuất, kinh doanh được thực hiện dưới dạng bí quyết kỹ thuật, phản ánh, quy trình công nghệ, tài liệu,… và các dịch vụ hỗ trợ tư vấn.
Công nghệ bao gồm phần cứng và phần mềm: - Phần cứng: máy móc, thiết bị, dụng cụ, kết cấu xây dựng, nhà xưởng. - Phần mềm bao gồm: + Con người: nhân lực có sức khỏe, kỹ năng kinh nghiệm sản xuất, làm việc có trách nhiệm và năng suất cao; + Thông tin: dữ liệu, thuyết minh, dự án, phần mô tả sáng chế, chỉ dẫn kỹ thuật, điều hành sản xuất; 8 + Tổ chức: quan hệ, bố trí, sắp xếp đào tạo đội ngũ cho các hoạt động phân chia nguồn lực, tạo mạng lưới, lập kế hoạch, kiểm tra, điều hành; + Phần bao tiêu: nhu cầu thị trường. Khi nói đến công nghệ, người ta thường chỉ nghĩ đến công nghệ theo nghĩa “phần cứng”. Nếu hiểu theo nghĩa như vậy thì công nghệ bị giới hạn là những sản phẩm từ những nghiên cứu khoa học công nghệ, những nghiên cứu mang tính ứng dụng cao.
Nhưng trong khoa học, ngoài nghiên cứu ứng dụng, triển khai còn có nghiên cứu cơ bản. Những nghiên cứu cơ bản này mang tính chất làm nền tảng cho những nghiên cứu khác, là cơ sở cho những nghiên cứu ứng dụng và triển khai. Hoạt động khoa học và công nghệ Hoạt động KH&CN là hoạt động có hệ thống, có liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức KH&CN vào đời sống, xã hội. Hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động nghiên cứu và phát triển, giáo dục và đào tạo về KH&CN và dịch vụ KH&CN.
Hoạt động giáo dục và đào tạo về KH&CN là các hoạt động ở bậc đại học, sau đại học và bồi dưỡng thường xuyên dành cho các nhà khoa học và kỹ sư. Dịch vụ KH&CN là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Theo Luật KH&CN năm 2013, “Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ”. 9 - Nghiên cứu khoa học là loại hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn.
Nghiên cứu khoa học gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng; - Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới. Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm; - Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới; - Sản xuất thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống; - Dịch vụ KH&CN là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng trí thức khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn. Hoạt động KH&CN với nội dung như trên chính là đối tượng của quản lý Nhà nước (QLNN) về KH&CN. Hoạt động KH&CN có các đặc trưng: tính sáng tạo, tính rủi ro; tính kế thừa; tính tích lũy.
Các đặc điểm trên của hoạt động KH&CN có liên hệ với nhau, không thể chia cắt. Vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển KT-XH KH&CN có vai trò to lớn đến sự phát triển của xã hội loài người. Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ phát triển từ thời kỳ mông muội đến văn minh hiện đại ngày nay có phần đóng góp quan trọng của các cuộc cách mạng KH&CN. Cuộc cách mạng KH&CN lần thứ nhất từ khoảng năm 1784 bắt đầu bằng việc xây dựng các tuyến đường sắt và phát minh ra động cơ hơi nước, dẫn đến sự bùng nổ của công nghiệp ở thế kỷ 19 lan rộng từ Anh đến châu Âu và Hoa 10 Kỳ.
Cuộc cách mạng KH&CN lần thứ nhất đã thay thế hệ thống kỹ thuật cũ có tính truyền thống của thời đại nông nghiệp (kéo dài 17 thế kỷ), chủ yếu dựa vào gỗ, sức mạnh cơ bắp (lao động thủ công), sức nước, sức gió và sức kéo động vật bằng một hệ thống kỹ thuật mới với nguồn động lực là máy hơi nước và nguồn nguyên, nhiên vật liệu và năng lượng mới là sắt và than đá. Nó khiến lực lượng sản xuất được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ, tạo nên sự phát triển vượt bậc của nền công nghiệp và nền kinh tế. Cuộc cách mạng KH&CN lần thứ hai từ khoảng năm 1870 đến khi Thế Chiến I nổ ra, sử dụng năng lượng điện để tạo nên nền sản xuất quy mô lớn. Cuộc cách mạng này đã chuyển sản xuất dựa trên cơ sở điện -cơ khí và sang giai đoạn tự động hóa cục bộ trong sản xuất, tạo ra các ngành mới trên cơ sở khoa học thuần tuý, biến khoa học thành một ngành lao động đặc biệt.
Cuộc cách mạng này đã mở ra kỷ nguyên sản xuất hàng loạt, được thúc đẩy bởi sự ra đời của điện và dây chuyền lắp ráp. Cuộc cách mạng KH&CN lần thứ ba xuất hiện vào khoảng từ 1969, với sự ra đời và lan tỏa của công nghệ thông tin, sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Cuộc cách mạng này thường được gọi là cuộc cách mạng máy tính hay cách mạng số bởi vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính, máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990). Khác biệt cơ bản nhất của cuộc cách mạng KH&CN lần 3 là sự thay thế phần lớn và hầu hết chức năng của con người (cả lao động chân tay lẫn trí óc) bằng các thiết bị máy móc tự động hoá hoàn toàn trong quá trình sản xuất nhất định.
Cách mạng KH&CN lần thứ 3 đã bảo đảm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng theo hai hướng chủ yếu: 1) Thay đổi chức năng và vị trí của con người trong sản xuất trên cơ sở dịch chuyển từ nền tảng điện - cơ khí sang nền tảng cơ - điện tử và cơ - vi điện tử. 11 2) Chuyển sang sản xuất trên cơ sở các ngành công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ nano, công nghệ vật liệu, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng mới, công nghệ Vũ trụ. có tính thân thiện với môi trường.