CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHU TRÌNH MUA HÀNG VÀ THANH TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Định nghĩa kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ luôn là một khâu quan trọng trong mọi quy trình quản trị, do đó các nhà quản lý thường chú tâm đến việc hình thành và duy trì các hoạt động kiểm soát để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Từ lâu, các kiểm toán viên đã nhận thức được ảnh hưởng của các hoạt động này đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp và đã phát triển các kỹ năng tìm hiểu và đánh giá chúng nhằm phục vụ cho công tác kiểm toán.
Do đó, định nghĩa KSNB đã hình thành và phát triển dần trở thành một hệ thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức, không chỉ phục vụ cho công việc của kiểm toán viên mà còn liên quan mật thiết đến vấn đề quản trị doanh nghiệp.78] Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về KSNB, nhưng định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của Ủy Ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ (COSO): Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu: Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; Sự tin cậy của báo cáo tài chính; Sự tuân thủ pháp luật và các quy định.79] Trong định nghĩa trên, bốn nội dung cơ bản là quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. Chúng được hiểu như sau: - Kiểm soát nội bộ là một quá trình: Các hoạt động của đơn vị được thực hiện thông qua quá trình lập kế hoạch thực hiện và giám sát. Kiểm soát nội bộ không phải là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt Luan van 9 động, quyện chặt vào các hoạt động của tổ chức tạo thành một thể thống nhất. Quá trình kiểm soát nội bộ đạt được các mục tiêu của đơn vị.79] - Kiểm soát nội bộ được thiết kế và điều hành bởi con người: Kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi những con người trong tổ chức, bởi suy nghĩ và hành động của của Hội đồng Quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên khác.
Chính họ sẽ vạch ra mục tiêu, đưa ra biện pháp kiểm soát và vận hành nó.80] - KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản lý trong việc đạt các mục tiêu của đơn vị chứ không phải đảm bảo tuyệt đối. Trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống KSNB, những yếu kém có thể xảy ra do những sai lầm của con người nên dẫn đến không thực hiện được các mục tiêu. Kiểm soát nội bộ có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra. Hơn nữa, một nguyên tắc cơ bản trong việc đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó.
Mục tiêu của kiểm soát nội bộ Bất kỳ một đơn vị nào cũng cần đề ra các mục tiêu kiểm soát để xác định các chiến lược cần thực hiện, có thể là mục tiêu chung cho toàn đơn vị, hay mục tiêu của từng bộ phận của đơn vị, kể cả mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động. Ba nhóm mục tiêu kiểm soát đơn vị cần thiết lập là: [3,4,5, tr.80] - Mục tiêu về báo cáo tài chính: KSNB phải bảo đảm về tính trung thực và đáng tin cậy của đơn vị, vì chính người quản lý phải có trách nhiệm lập báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực và chế độ báo cáo tài chính hiện hành. - Mục tiêu về sự tuân thủ: Để đạt được các mục tiêu của đơn vị thì kiểm soát nội bộ phải bảo đảm việc hoạt động của đơn vị chấp hành pháp luật của Luan van 10 Nhà nước, các thành viên trong đơn vị tuân thủ các chính sách, nội quy và quy chế của đơn vị. - Mục tiêu về hoạt động: đây là mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực, bảo mật thông tin, nâng cao uy tín, mở rộng thị phần, thực hiện các chiến lược kinh doanh của đơn vị… Để đạt các mục tiêu này, cần dựa trên cơ sở các chuẩn mực đã thiết lập, những kết quả đạt được khi thiết lập hệ thống KSNB phụ thuộc vào môi trường kiểm soát, cách thức đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, việc giám sát và hệ thống thông tin và truyền thông của đơn vị.
Như vậy, hệ thống KSNB bao trùm mọi mặt hoạt động và có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của một đơn vị. Ngoài ra, theo mục đích của hệ thống KSNB có hai mục tiêu: Mục tiêu về kế toán; Mục tiêu hiệu quả quản lý. - Mục tiêu về kế toán: Một hệ thống kế toán hữu hiệu phải đảm bảo cho các mục tiêu sau đây được thực hiện: Tính có thực: Nghĩa là chỉ được ghi những nghiệp vụ kinh tế có thật, không được ghi chép những nghiệp vụ kinh tế giả tạo vào sổ sách kế toán của đơn vị. Sự phê chuẩn: Trước khi thực hiện một hoạt động, một nghiệp vụ phải đảm bảo rằng nó được phê chuẩn hợp lệ.
Tính đầy đủ: Không được loại bỏ, giấu bớt hay để ngoài sổ sách về bất kỳ nghiệp vụ kinh tế phát sinh nào. Sự phân loại: Đảm bảo số liệu được ghi nhận phân loại theo đúng hệ thống tài khoản của đơn vị và ghi nhận đúng đắn vào các sổ sách kế toán có liên quan. Luan van 11 Đúng thời điểm: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải đúng thời điểm và theo một nguyên tắc nhất quán. Sổ chi tiết và sổ tổng hợp kế toán được ghi nhận một cách chính xác: Khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh, số liệu kế toán được phản ánh vào sổ kế toán chi tiết một cách đúng đắn và tổng hợp chính xác để giúp phản ánh trung thực và chính xác tình hình tài chính của đơn vị vào một thời điểm nào đó theo yêu cầu của nhà quản lý.
Báo cáo tài chính được phản ánh theo những chuẩn mực kế toán đã được Bộ tài chính ban hành. - Mục tiêu hiệu quả quản lý: Đánh giá và thúc đẩy sự chấp hành của các chính sách, thủ tục của đơn vị để đạt được mục tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh. Kiểm soát quản lý bao gồm các hoạt động: “Thông đạt các mục tiêu, chính sách của DN cho toàn thể đơn vị; tạo lập cơ cấu trách nhiệm và quản lý; thiết lập các quy chế hoạt động để đạt các mục tiêu DN; giám sát để nhận dạng các rủi ro bên trong lẫn bên ngoài tác động đến DN; thiết lập các chính sách và các thủ tục thực hiện để giải quyết các rủi ro; đánh giá mức độ hoàn thành công việc của các bộ phận trong DN”. Các thành phần chủ yếu của kiểm soát nội bộ Theo COSO, một hệ thống KSNB hiện nay có năm thành phần chủ yếu của là: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Thủ tục kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giám sát mà bất kỳ hệ thống KSNB nào cũng phải bao gồm những bộ phận cơ bản đó.
Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một đơn vị, nó phản ánh ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị, là nền tảng đối với các bộ phận khác trong hệ thống KSNB. Ngoài ra, môi trường kiểm soát là toàn bộ nhân tố bên trong và bên ngoài đơn vị tác động đến việc thiết kế, hoạt Luan van 12 động và xử lý dữ liệu của các loại hình kiểm soát nội bộ. Thái độ của người quản lý đối với vấn đề kiểm soát có vai trò rất quan trọng, có ảnh hưởng đến cách thức kinh doanh của một tổ chức, Các nhân tố chính thuộc về môi trường kiểm soát là: - Phong cách điều hành của nhà quản lý: Triết lý và phong cách điều hành của nhà quản lý thể hiện thông qua thái độ, quan điểm khác nhau về việc lập và trình bày báo cáo tài chính. Nếu một nhà quản lý chú ý quá mức đến việc báo cáo tình hình tài chính và nhấn mạnh đến việc hoàn thành kế hoạch lợi nhuận thì sẽ sẵn sàng hành động mạo hiểm để đổi lấy một mức lợi nhuận cao, thì môi trường kiểm soát sẽ yếu.
Nếu nhà quản lý có quan điểm kinh doanh trung thực và cạnh tranh lành mạnh, họ có xu hướng coi trọng tính trung thực của báo cáo tài chính, đồng thời có những biện pháp hạn chế tối đa rủi ro kinh doanh thì môi trường kiểm soát sẽ mạnh. Bên cạnh đó, phong cách đó cũng thông qua việc lựa chọn các chính sách kế toán, các ước tính kế toán, và về việc phân nhiệm kế toán viên. Phương pháp điều hành của người quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách, các qui định, quy chế của đơn vị, bởi vì chính họ sẽ phê chuẩn các quyết định, chính sách và thủ tục kiểm soát áp dụng tại đơn vị. - Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức là sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn giữa các bộ phân trong đơn vị, nó góp phần rất lớn trong việc đạt được các mục tiêu.
Nói cách khác, cơ cấu phù hợp sẽ là cơ sở cho việc lập kế hoạch, điều hành, kiểm soát và giám sát các hoạt động. Vì thế, khi xây dựng một cơ cấu tổ chức phải xác định được các vị trí then chốt với quyền hạn, trách nhiệm và các thể thức báo cáo cho phù hợp. Điều này còn phụ thuộc quy mô và bản chất hoạt động của đơn vị, giúp đơn vị thực hiện chiến lược đã hoạch định để đạt mục tiêu đề ra. Luan van 13 - Phân định quyền hạn và trách nhiệm: Phân định quyền hạn và trách nhiệm được xem là phần mở rộng của cơ cấu tổ chức.
Nó cụ thể hóa về quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên trong các hoạt động của đơn vị, giúp cho mỗi thành viên phải hiểu rằng họ có nhiệm vụ cụ thể gì và từng hoạt động của họ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến người khác trong việc hoàn thành mục tiêu. Do đó, khi mô tả công việc, đơn vị cần phải thể chế hóa bằng văn bản về những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của từng thành viên và quan hệ giữa họ với nhau.