Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHI PHÍ XÂY LẮP TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Khái niệm và mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Khái niệm KSNB luôn là một khâu quan trọng trong mọi quy trình quản trị, do đó các nhà quản lý thường chú tâm đến việc hình thành và duy trì các hoạt động kiểm soát để đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Từ lâu, các kiểm toán viên đã nhận thức được ảnh hưởng của các hoạt động này đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp và đã phát triển các kỹ năng tìm hiểu và đánh giá chúng nhằm phục vụ cho công tác kiểm toán. Do đó, khái niệm KSNB đã hình thành và phát triển dần trở thành một hệ thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức, không chỉ phục vụ cho công việc của kiểm toán viên mà còn liên quan mật thiết đến vấn đề quản trị doanh nghiệp. Quá trình nhận thức và nghiên cứu về KSNB đã dẫn đến các khái niệm khác nhau từ giản đơn đến phức tạp về hệ thống này. Đến nay, khái niệm được chấp nhận khá rộng rãi là: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây: Báo cáo tài chính đáng tin cậy; Các luật lệ và quy định được tuân thủ; Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.”[ 2, tr 70] Trong khái niệm trên, bốn nội dung cơ bản là quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu.
Chúng được hiểu như sau: Luan van 6 KSNB là một quá trình. KSNB bao gồm một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất. Quá trình kiểm soát là phương tiện để giúp cho đơn vị đạt được các mục tiêu của mình. KSNB được thiết kế và điều hành bởi con người.
Cần hiểu rằng KSNB không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu. mà phải bao gồm cả những con người trong tổ chức như Hội đồng Quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên khác. Chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng. KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, chứ không phải đảm bảo tuyệt đối, là các mục tiêu sẽ được thực hiện.
Vì khi vận hành hệ thống kiểm soát, những yếu kém có thể xảy ra do các sai lầm của con người nên dẫn đến không thực hiện được các mục tiêu. KSNB có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra. Hơn nữa, một nguyên tắc cơ bản trong việc đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. Các mục tiêu của KSNB Đối với báo cáo tài chính, KSNB phải bảo đảm về tính trung thực và đáng tin cậy, bởi vì chính người quản lý đơn vị phải có trách nhiệm lập báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực và chế độ báo cáo tài chính hiện hành.
Đối với tính tuân thủ, KSNB trước hết phải bảo đảm hợp lý việc chấp hành pháp luật và các quy định. Bên cạnh đó, KSNB còn phải hướng mọi thành viên trong đơn vị vào việc tuân thủ các chính sách, quy định nội bộ của đơn vị, qua đó bảo đảm đạt được những mục tiêu của đơn vị. Luan van 7 Đối với mục tiêu sự hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động, KSNB giúp đơn vị bảo vệ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo mật thông tin, nâng cao uy tín, mở rộng thị phần, thực hiện các chiến lược kinh doanh của đơn vị. Như vậy, các mục tiêu của hệ thống KSNB rất rộng, chúng bao trùm lên mọi mặt hoạt động và có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của đơn vị.
Theo mục đích của hệ thống KSNB của đơn vị, có hai dạng kiểm soát cơ bản là: Kiểm soát quản lý; Kiểm soát kế toán. Kiểm soát quản lý nhằm kiểm soát sự tuân thủ của nhân viên với các chính sách quản lý để đạt được mục tiêu hiệu quả SXKD. Các chính sách quản lý cụ thể như: Các thủ tục vận hành hệ thống; các thao tác nghiệp vụ theo trình tự của chuỗi nghiệp vụ;. Kiểm soát quản lý bao gồm các hoạt động: “ Thông đạt các mục tiêu, chính sách của DN cho toàn thể đơn vị; tạo lập cơ cấu trách nhiệm và quản lý; thiết lập các quy chế hoạt động để đạt các mục tiêu DN; giám sát để nhận dạng các rủi ro bên trong lẫn bên ngoài tác động đến DN; thiết lập các chính sách và các thủ tục thực hiện để giải quyết các rủi ro; đánh giá mức độ hoàn thành công việc của các bộ phận trong DN”.
Kiểm soát kế toán nhằm bảo vệ tài sản của đơn vị, thẩm định tính chính xác và độ tin cậy của thông tin kế toán. Các thành phần của hệ thống KSNB Mặc dù có sự khác biệt đáng kể về tổ chức hệ thống KSNB giữa các đơn vị vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô, tính chất hoạt động, mục tiêu … của từng nơi, thế nhưng bất kỳ hệ thống KSNB nào cũng phải bao Luan van 8 gồm những bộ phận cơ bản. Theo quan điểm phổ biến hiện nay, KSNB bao gồm các bộ phận sau: 1. Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một đơn vị, nó chi phối ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị và là nền tảng đối với các bộ phận khác của KSNB.
Các nhân tố chính thuộc về môi trường kiểm soát là: Đặc thù về quản lý: Là các quan điểm khác nhau của người quản lý đơn vị đối với tình trạng của báo cáo tài chính cũng như đối với rủi ro trong hoạt động kinh doanh của đơn vị. Nếu một nhà quản lý chú ý quá mức đến việc báo cáo tình hình tài chính và nhấn mạnh đến việc hoàn thành kế hoạch lợi nhuận thì sẽ sẵn sàng hành động mạo hiểm để đổi lấy một mức lợi nhuận cao, thì môi trường kiểm soát sẽ yếu. Nếu nhà quản lý có quan điểm kinh doanh trung thực và cạnh tranh lành mạnh, họ có xu hướng coi trọng tính trung thực của báo cáo tài chính, đồng thời có những biện pháp hạn chế tối đa rủi ro kinh doanh thì môi trường kiểm soát sẽ mạnh. Sự hữu hiệu của hệ thống KSNB còn phụ thuộc vào tính chính trực và việc tôn trọng các giá trị đạo đức của toàn thể nhân viên trong đơn vị.
Để đáp ứng yêu cầu này, các nhà quản trị cần phải xây dựng những chuẩn mực về đạo đức trong đơn vị và cư xử đúng đắn để có thể ngăn cản không cho các thành viên có các hành vi thiếu đạo đức hoặc phạm pháp cũng như các quy định của đơn vị. Cơ cấu về quyền lực: Kiểm tra, giám sát việc sử dụng quyền lực đã được phân quyền, nhằm đề phòng các trường hợp sử dụng không hết quyền hạn được giao hoặc lạm dụng các quyền này trong quản lý. Luan van 9 Nếu quyền lực tập trung vào người quản lý cao nhất thì môi trường kiểm soát phụ thuộc vào người quản lý cao nhất, lúc đó môi trường kiểm soát phụ thuộc chủ yếu vào quan điểm, phong cách điều hành của người này. Nếu quyền lực được phân tán cho nhiều người thì vấn đề kiểm tra giám sát việc sử dụng quyền lực đã phân quyền nhằm tránh tình trạng sử dụng không hết quyền hạn được giao hay lạm quyền.
Đồng thời để nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống KSNB, nhà quản trị cần phải loại trừ hoặc giảm thiểu những sức ép hay điều kiện có thể dẫn đến nhân viên có những hành vi thiếu trung thực. Những hành động không đúng cũng có thể phát sinh khi quyền lợi của nhà quản lý lại gắn chặt với số liệu báo cáo. Cơ cấu tổ chức: Là sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn giữa các bộ phân trong đơn vị, nó góp phần rất lớn trong việc đạt được các mục tiêu. Nói cách khác, cơ cấu phù hợp sẽ là cơ sở cho việc lập kế hoạch, điều hành, kiểm soát và giám sát các hoạt động.
Vì thế, khi xây dựng một cơ cấu tổ chức phải xác định được các vị trí then chốt với quyền hạn, trách nhiệm và các thể thức báo cáo cho phù hợp. Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào quy mô và tính chất hoạt động của đơn vị. Cơ cấu tổ chức của một đơn vị thường được mô tả qua sơ đồ tổ chức, trong đó phản ánh các mối quan hệ về quyền hạn, trách nhiệm và báo cáo. Chính sách nhân sự: Là các chính sách và thủ tục của nhà quản lý về việc tuyển dụng, huấn luyện, bổ nhiệm, đánh giá, sa thải, đề bạt, khen thưởng và kỷ luật nhân viên.
Chính sách nhân sự có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của môi trường kiểm soát thông qua tác động đến các nhân tố khác trong môi trường kiểm soát như đảm bảo về năng lực, tính chính trực và các giá trị đạo đức. Thí dụ, một chính sách tuyển dụng dành ưu tiên cho những cá Luan van 10 nhân có trình độ, kinh nghiệm, chính trực và hạnh kiểm tốt sẽ là sự đảm bảo không những về năng lực mà còn về phẩm chất của đội ngũ nhân viên. Môi trường kiểm soát ảnh hưởng đến mọi hoạt động của một doanh nghiệp, trong đó có công tác kế toán và độ trung thực của báo cáo tài chính. Thí dụ một quan điểm không đúng của Giám đốc về báo cáo lợi nhuận có thể làm mất đi sự trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, hoặc năng lực yếu kém của đội ngũ nhân viên kế toán có khả năng dẫn đến các sai lệch trọng yếu của các báo cáo này.
Công tác kế hoạch: Bao gồm một hệ thống kế hoạch sản xuất – kinh tế - tài chính cũng như phương án chiến lược của bộ phận quản lý cao nhất nhằm giúp cho đơn vị hoạt động đúng hướng và có hiệu quả. Công tác kế hoạch là việc lập các kế hoạch và dự toán, đồng thời là việc theo dõi và kiểm tra quá trình thực hiện các kế hoạch, các dự toán đó. Các kế hoạch và dự toán này bao gồm kế hoạch mua nguyên liệu, kế hoạch sản xuất, kế hoạch chi phí và dự toán chi phí .