CHƯƠNG 1: CÁC VAN DE CO BAN VE HOẠT ĐỘNG HUY DONG VON CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Hoat động huy động vốn của NHTM 1. Khái niệm và mục đích của hoạt động huy động vốn của NHTM. Khái niệm NHTM có vai trò như một trung gian tài chính với chức năng chuyên hóa các nguồn vốn từ các nơi tạm thời “thừa vốn” Sang nơi “thiếu vốn”.
Đề thực hiện tốt chức năng này đòi hỏi NHTM phải có nguồn vốn dồi dào gồm cả vốn chủ sở hữu và vốn huy động. Tại Việt Nam, theo quy định tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN thì vốn tự có tối thiêu ở mức 9% so với tổng tài sản Có quy đổi theo mức độ rủi ro của NHTM. Với tỷ lệ nhỏ như vậy thì vốn chủ sở hữu hầu như thường được sử dụng dé đầu tư vào các tai sản cô định. Điều này cũng có nghĩa vốn dé cho vay và dau tu tại NHTM hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn vốn huy động.
Như vậy có thé thấy răng, hoạt động HDV ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của NHTM. Khái niệm về hoạt động HDV: Khi nhìn từ góc độ quản lý: “HDV trong các NHTM là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm soát hoạt động nguồn vốn nợ nhằm đạt mục tiêu dé ra.” Khi nhìn từ góc độ nghiệp vụ HDV: “HPV của NHTM là việc NHTM thông qua các phương pháp khác nhau, bằng việc sử dụng các công cụ khác nhau dé hoạt động nguồn von nợ trong nên kinh tế. ” Nhu vậy, có thê hiểu đơn giản: “Hoạt động HDV của NHTM là hoạt động thông qua các công tác lập kế hoạch, lựa chọn sử dụng các công cụ và các hình thức khác nhau nhằm tạo nguồn vốn nợ phải trả cho NHTM từ các chủ thể trong nền kinh tế cũng như tô chức chỉ đạo thực hiện và kiểm soát công tac HDV dé dat duoc muc tiéu dé ra”. Mục tiêu hoạt động huy động vốn Công tác HDV tại NHTM gồm có 3 mục tiêu chính: e Tìm kiếm nguồn vốn “rẻ” Bởi chi phí trả lãi chiếm ty trọng lớn nhất trong chi phí hoạt động của NHTM.
Với bat cứ thay đổi nào về LS và cơ câu nguồn vốn dé có thê thay đổi chi phí trả lãi và từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của NH. Lê Phong Châu e Tao nguon vốn ồn định với cơ cầu hợp lý Cơ cấu nguồn vốn huy động phải căn cứ theo cơ cau cho vay và đầu tư nhằm giúp NH tránh được những rủi ro về kỳ hạn hay các căng thăng về tài chính trong điều kiện môi trường kinh doanh có biến động phức tạp. e Hoàn thành kế hoạch HDV Tùy vào bối cảnh nền kinh tế dang ở giai đoạn tăng trưởng hay suy thoái mà các NH đặt ra kế hoạch HDV phù hợp và có thé được thay đổi trong năm phụ thuộc vào nhu cầu vốn. Nếu NH hoàn thành kế hoạch này đồng nghĩa hoạt động HDV của NH tốt và ngược lại.
Các hình thức huy động vốn Một NHTM có thể HĐV bang các hình thức khác nhau từ rất nhiều nguồn. Do đó, việc phân loại các hình thức huy động căn cứ vào một số tiêu chí như thời gian hoạt động, đối tượng huy động và công cụ huy động. Căn cứ theo thời gian hoạt động Việc phân loại theo thời gian liên quan đến mức độ an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn huy động cũng như thời hạn phải hoàn trả vốn cho KH. Dựa vào tiêu chí thời gian, hình thức HDV gồm có: a.
Huy động ngắn hạn “Là hình thức huy động được sử dụng chủ yếu trong các NHTM thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và thực hiện các nghiệp vụ như nhận TG ngắn hạn, TG thanh toán và TG khác”. Vốn huy động băng hình thức này có thời hạn từ 1 đến 12 tháng và phần lớn được dùng dé cho vay ngắn han hoặc được chuyền hóa kỳ hạn dé cho vay trung dài hạn. Bởi có thời hạn ngắn nên LS huy động ngắn hạn thường không cao và dễ thay đồi. Huy động trung hạn “Là nguồn vốn huy động được khi NH phát hành các công cụ nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận TG trung hạn kỳ hạn từ trên 1 đến 5 năm”.
Do thời hạn dài hơn nên NH có thé sử dụng loại vốn này dé cho vay hoặc đầu tư trong thời gian tương đối lâu. Tuy nhiên, LS huy động nguồn này thường lớn hơn nguồn ngắn hạn. Huy động dài hạn “Là nguồn von chủ yếu được huy động dưới việc phát hành công cụ nợ dai hạn, nhận TG dài han (ky hạn trên 5 năm) và các nghiệp vụ khác”. Do có tính én định cao 4 GVHD.
Lê Phong Châu và sử dụng dé dang nên LS phải trả cho loại vốn này khá cao. Căn cứ vào đối tượng huy động Có rất nhiều phương thức dé phân loại các chủ thé trong nền kinh tế. Tuy nhiên, đối tượng huy động của NHTM được chia thành 3 nhóm chính: a. HDV từ dân cư.
“Là các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng của các cá nhân, đối tượng mong muốn bảo toàn và gia tăng sinh lợi cho khoản tiền nhàn rỗi của mình”. Vì vậy đây là nguồn huy động cực kỳ tiềm năng và tương đối ôn định cho các NHTM với hình thức huy động da dang và LS linh hoạt. HDV từ doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Nhằm rút ngắn thời gian và tiết kiệm chi phí trong thanh toán, các DN dù lớn hay nhỏ hầu hết sẽ mở tài khoản thanh toán trong NH.
Giúp DN gửi tiền vào khi bán được hàng hóa và rút tiền ra khi cần thiết. Mỗi DN và các tô chức xã hội có chu kỳ rút tiền khác nhau. Do đó, NH sẽ luôn có nắm giữ một lượng tiền lớn có thể sử dụng một cách tương đối thuận lợi. Tuy nhiên, quy mô vốn huy động sẽ phụ thuộc vào các dịch vụ, tiện ích mà NH cung cấp.
Điều này thé hiện nghiệp vụ HDV từ các DN và các tổ chức xã hội gắn liền với hoạt động mở rộng và cải tiến dịch vụ của NHTM. Huy động từ NH và các TCTD khác. Đề thuận tiện trong quá trình giao dịch, thanh toán và các hoạt động khác thì thường có những khoản TG giữa các NH với nhau. Điều này làm tăng nguồn vốn huy động của NH.
Ngoài ra, các NH cũng có thé đi vay lẫn nhau dé HDV. Mặc dù, hoạt động này không thường xuyên nhưng nó lại khá cần thiết trong quá trình kinh doanh của mỗi NHTM khi xuất hiện việc thiếu hụt dự trữ hay khả năng thanh toán bị đe dọa. Việc đi vay giữa các NHTM là một thỏa thuận tin dụng giữa hai bên và có thé diễn ra trên thị trường nội tệ và ngoại tệ. Nếu NH sau khi vay mượn lẫn nhau mà vẫn thiếu vốn hoặc mat kha năng thanh toán, thì có thé vay vốn tại NHNN để bổ sung vào nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của NH.
Mặc dù huy động từ NHNN và các TCTD khác dễ dàng nhưng số lượng thường bị giới hạn và chi phí huy động cũng rất cao. Vì vậy, hình thức huy động này không được sử dụng nhiêu. Lê Phong Châu 1. Căn cứ vào công cụ HDV Phương thức phân loại này được sử dụng phổ biến tại các NHTM hiện nay.
Day là hình thức phân loại theo các nghiệp vụ HPV rõ ràng, từ đó tạo sự thuận tiện cho NH trong quá trình huy động. HDV qua nghiệp vụ nhận TG Tại Việt Nam, theo luật các TCTD thì TG nói chung được hiểu “là tiền của KH gửi tại TCTD dưới các hình thức khác nhau gồm có TG không kỳ hạn, TG có kỳ hạn và TG tiết kiệm". e Huy động TG không kỳ han “Là loại TG KH gửi vào NH mà không có thỏa thuận trước về thời gian rút tiền và được xem là phương thức tương đối quan trọng tại những nước phát triển có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt cao. Mục đích của các khoản TG này chủ yêu đề thanh toán chứ không phải sinh lời”.
KH gửi tiền đa số là các TCKT, các DN và các cá nhân kinh doanh phải thanh toán tiền hàng hóa và dịch vụ liên tục. KH được phép rút khoản tiền của minh ra bất cứ khi nào họ muốn hoặc dé trả cho cá nhân thứ ba dưới những hình thức khác nhau như rút tiền mặt tại máy rút tự động (ATM); quẹt thẻ tại các máy POS; thanh toán qua E-Banking, Mobie-Banking. mà không nhất thiết phải đến NH. NH thường bảo quản TG này trên hai tài khoản: - Tài khoản thanh toán: “Là loại tài khoản TG mà chủ tài khoản có toàn quyền sử dụng số tiền trên tài khoản nhưng chỉ trong phạm vi số du TG.
Loại tài khoản này luôn luôn có số dư có”. - Tài khoản vãng lai: “Là tài khoản có thể dư có hoặc dư nợ, thường được sử dụng cho các cá nhân. Số dư có thể hiện TG của KH và số dư nợ thể hiện khoản tín dụng NH cấp cho KH”. Bởi mục đích khi gửi tiền chủ yếu là dé sử dụng các dịch vụ NH nên người gửi tiền thường không nhận được lãi cho khoản tiền mà họ gửi hoặc nhận được lãi ở mức rất thấp.
Tuy nhiên, đối với những nước có tỷ lệ dùng tiền mặt để thanh toán cao thì các NHTM sẽ chấp nhận chi trả mức LS cao hơn nhằm khuyến khích KH gửi tiền. Do tính chất có thể bị rút ra bất cứ lúc nào nên loại TG này được xem như một loại vốn có tính biến động mạnh, vì vậy NH không ưu tiên sử dụng số vốn này. Ngoài ra, NH còn phải dự trữ một số tiền dé đảm bảo có thé thanh toán ngay khi KH có nhu cầu. Lê Phong Châu e Huy động TG có kỳ hạn: “Là loại TG mà KH từ các TCKT, cá nhân và NH, gửi vào NH và sẽ được rút ra sau một thời gian nhất định.
Khoản này thường gắn với các TCKT có chu kỳ kinh doanh gần như cố định, không có nhiều sự biến động trong thời gian thanh toán các khoản nợ vay”. Do phần lớn TG này NH có thể sử dụng dễ dàng nên LS phải trả cũng cao hơn so với TG không ky hạn. e_ Huy động TG tiết kiệm: “Là hình thức huy động mà KH gửi tiền nhằm hưởng lãi và được sử dụng rộng rãi, lâu đời nhất tại các NHTM”. Khi đó, KH sẽ được NH cấp cho một cuốn số và phải tự mình quản lý cũng như mang theo mỗi khi đến NH giao dịch.