phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được chia làm3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về hoạt động thanh tra, kiểm tra của Kho bạc Nhà nước tỉnh, thành phố Chƣơng 2:Thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra của Kho bạc Nhà nước Cao Bằng Chƣơng 3: Giải pháp tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra của Kho bạc Nhà nước Cao Bằng đến năm 2025 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA CỦA KHO BẠC NHÀ NƢỚC TỈNH, THÀNH PHỐ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò hoạt động thanh tra, kiểm tra của Kho bạc Nhà nƣớc tỉnh, thành phố 1. Khái niệm thanh tra, kiểm tra của Kho bạc Nhà nước tỉnh, thành phố 1. Khái niệm và sự phân biệt giữa thanh tra và kiểm tra Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, Nhà nước đã xuất hiện với tư cách là cơ quan có quyền lực công cộng với sứ mạng lịch sử là duy trì trật tự xã hội.
Để thực hiện được sứ mạng lịch sử đó, Nhà nước thể hiện sự quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động của xã hội. Nhiệm vụ cơ bản trong quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước là dự đoán, kế hoạch tổ chức, động viên, điều hành, thanh tra, kiểm tra. Như vậy, thanh tra, kiểm tra luôn gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước. Hiện nay có một số quan niệm về thanh tra: Theo nghiệp vụ hoạt động thanh tra – Trường cán bộ thanh tra: “Thanh tra xuất phát từ tiếng Latinh (In-spectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong” chỉ “một sự xem xét từ bên ngoài vào một đối tượng nhất định”.
Theo Giáo trình Thanh tra tài chính – Học viện tài chính: “Thanh tra là hoạt động kiểm tra của tổ chức thanh tra nhà nước đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, chấn chỉnh những sai lầm, xử lý những vi phạm trong các hoạt động kinh tế - xã hội giúp cho bộ máy quản lý vận hành tốt”. Theo Quốc Hội Việt Nam (2014): “Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật thanh tra và các quy định khác của pháp luật”. Như vậy, từ những khái niệm trên ta có thể hiểu, thanh tra là hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá, xử lý của chủ thể quản lý với đối tượng quản lý nhằm phòng 6 ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, chính sách chế độ của Nhà nước và các quy định của cơ quan, tổ chức. Thanh tra là hoạt động kiểm tra cho nên giữa thanh tra và kiểm tra có những điểm giống nhau.
Thanh tra và kiểm tra đều có cùng mục đích là phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật, quy chế, chế độ quản lý. góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thành cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Thanh tra và kiểm tra đều phải xem xét hoạt động thực tế của đối tượng để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình một cách chính xác, khách quan, trung thực, xử lý sai phạm. Do đó, giữa thanh tra và kiểm tra có thể có cùng nội dung hoặc phương pháp tiến hành trong những phạm vi công việc nhất định.
Tuy nhiên, giữa thanh tra và kiểm tra có sự khác nhau: Chủ thể tiến hành thanh tra và kiểm tra:Chủ thể của hoạt động thanh tra và kiểm tra là không giống nhau. Chủ thể của thanh tra là các tổ chức thanh tra chuyên trách về kiểm tra của Nhà nước. Đó là thanh tra nhà nước gồm, các cơ quan thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành (thanh tra Ngân hàng, thanh tra Tài chính, Thanh tra Thuế,. Trong hoạt động thanh tra, các cơ quan thanh tra có thể sự dụng các cán bộ ngoài ngành thanh tra tham gia nhưng điều quan trọng là những người tiến hành hoạt động thanh tra phải có tư cách pháp lý do cơ quan có thẩm quyền quyết định để khi cần thiết họ có thể sử dụng tối đa các quyền của mình đối với các đối tượng thanh tra.
Chủ thể kiểm tra rộng hơn. Nó bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan thanh tra, Thủ trưởng các đơn vị, các tổ chức quần chúng và người lao động cũng có thể thanh tra trực tiếp kiểm tra. Cơ quan thanh tra nhà nước thực hiện việc kiểm tra đối với doanh nghiệp, cơ quan. Cơ quan thanh tra nhà nước không kiểm tra thường xuyên, mà kiểm tra theo vụ việc được phát hiện.
Cơ quan này vừa kiểm tra, vừa có quyền xử lý kết quả kiểm 7 tra đó. Như vậy có thể nói thanh tra là kiểm tra từ bên ngoài vào đối tượng; còn kiểm tra có khi do bản thân đối tượng đó thực hiện (tự kiểm tra), không nhất thiết do bên ngoài kiểm tra. Về nội dung: Nội dung thanh tra thường là những vấn đề phức tạp, bao gồm những hành vi thuộc về quá khứ. Hoạt động thanh tra là kiểm tra ở giai đoạn sau khi các hoạt động giải quyết các “tồn đọng” trong quản lý; giải quyết các khiếu nại, tố cáo đối với các đối tượng kiểm tra vi phạm pháp luật.
Có thể khẳng định, nội dung thanh tra thường là phức tạp, có những vấn đề bộc lộ ra bề nổi, song rất nhiều vấn đề bị che đậy bởi những vẻ bề ngoài khác nhau và khó nhận biết được bản chất của sự việc. Để có kết luận chính xác, những đánh giá đúng đắn về các vụ việc, đòi hỏi phải có thời gian, có nghiệp vụ thanh tra để kiểm tra, thu thập các tài liệu chứng cứ cần thiết. Nội dung hoạt động kiểm tra thường là những vấn đề trong hiện tại, dễ nhận biết thực chất của chúng hơn. Tất nhiên, nội dung kiểm tra bao gồm những nội dung cụ thể của kiểm tra trước, kiểm tra trong và kiểm tra sau khi các hoạt động kinh tế - xã hội phát sinh, cũng như việc kiểm tra thực hiện các ch ính sách, pháp luật, chế độ, thể lệ quản lý của Nhà nước, nhưng chủ yếu là kiểm tra thường xuyên trong quá trình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội.
Vì vậy, khi tiến hành kiểm tra cũng dễ nhận biết thực chất của vấn đề, không đòi hỏi phải có những biện pháp nghiệp vụ phức tạp để xác minh tài liệu, chứng cứ mà vẫn có thể đánh giá đúng đắn và có kết luận chính xác. Về phạm vi:hoạt động kiểm tra diễn ra ở tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội, nó được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, ở mọi nơi với nhiều hình thức và phương pháp kiểm tra thích hợp với các yêu cầu, đặc điểm, nội dung hoạt động của những đối tượng kiểm tra. Phạm vi của hoạt động thanh tra hẹp hơn. Hoạt động thanh tra là kiểm tra ở gia đoạn sau khi các hoạt động kinh tế - xã hội đã phát sinh.
Điều đó có nghĩa là thanh tra chỉ bó hẹp ở giai đoạn sau. Muốn xác minh hồ sơ, tài liệu, thu thập chứng cứ đầy đủ để đánh giá đúng, kết luận chính xác, khách quan những nội dung cần 8 thanh tra cũng cần phải kiểm tra các giai đoạn trước và trong khi thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội với các chính sách, pháp luật, chế độ liên quan. Điều đó có nghĩa là, để kiểm tra sau phải thẩm định lại, kiểm tra lại những thông tin xảy ra trước mới đưa đến những thông tin cuối cùng. Kiểm tra của hoạt động thanh tra dựa vào các số liệu, sổ sách thống kê, kế toán, các báo cáo quyết toán đã ghi chép, tính toán, phản ánh cả quá trình phát sinh các nghiệp vụ kinh tế - tài chính theo thời gian và không gian của chúng.
Nói khác đi, tài liệu, số liệu thanh tra tác động tới là những tài liệu, số liệu của quá khứ, khi các hoạt động kinh tế - xã hội đã kết thúc. Về thời gian:Hoạt động thanh tra được tổ chức theo từng cuộc nên thời gian thường dài. Đối với hoạt động kiểm tra, thời gian ngắn hơn. Về hình thức tổ chức: Để tiến hành hoạt động thanh tra phải thành lập Đoàn và Đoàn thanh tra thực hiện trình tự thanh tra theo quy định của pháp luật.
Đối với kiểm tra có thể thành lập Đoàn hoặc không cần thành lập Đoàn, có khi chỉ cần cấp dưới tự kiểm tra một hoặc một số nội dung và báo cáo kết quả bằng văn bản cho cấp trên. Hoạt động thanh tra và kiểm tra tuy có sự khác nhau, song đều là những hoạt động không thể thiếu được trong hoạt động quản lý của Nhà nước. Việc phân định giữa thanh tra và kiểm tra không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo, để tránh tình trạng chồng chéo giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra, giảm bớt phiền hà cho các tổ chức và cá nhân là đối tượng thanh tra, kiểm tra. Khái niệm thanh tra, kiểm tra của Kho bạc Nhà nước tỉnh, thành phố.
Thanh tra, kiểm tra KBNN được tổ chức theo cấp hành chính, ở Trung ương có Thanh tra KBNN; ở địa phương có Phòng Thanh tra thuộc KBNN các tỉnh, thành phố. Thanh tra, kiểm tra KBNN tỉnh, thành phố là hoạt động thanh tra, kiểm tra do KBNN tỉnh thực hiện đối với KBNN cấp dưới (KBNN các huyện; thành phố; thị 9 xã) nhằm đánh giá tình hình triển khai các hoạt động nghiệp vụ tại các KBNN cấp dưới, kịp thời phát hiện các tồn tại; sai sót; sai phạm trong các hoạt động nghiệp vụ từ đó có các biện pháp uốn nắn; chấn chỉnh; xử lý kịp thời các sai phạm, đảm bảo các hoạt động nghiệp vụ tại các KBNN cấp dưới triển khai đúng chế độ quy định.