Chương 1: Hiệu quả huy động nguồn tiền gửi của NHTM SV: Nguyễn Thị Bích Hằng Lớp ngân hàng K21 ( VB2) 1 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS. Hoạt động huy động nguồn tiền gửi của NHTM 1. Các hoạt động cơ bản của NHTM Ngân hàng thương mại (NHTM) là một loại hình tổ chức trung gian tài chính hình thành lâu đời nhất trong lịch sử, được hình thành trên cơ sở phát triển của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa. Cho đến nay, các NHTM không ngừng phát triển các loại hình hoạt động của mình nhằm cung cấp đến khách hàng những sản phẩm và dịch vụ tốt nhất.
Nhưng một NHTM đi vào hoạt động luôn tồn tại 3 loại hình hoạt động chính yếu. Đó là: huy động nguồn vốn, sử dụng nguồn vốn và các hoạt động khác 1. Hoạt động huy động nguồn vốn Huy động nguồn vốn là một hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM. Đây là hoạt động đầu tiên và chính yếu, đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của ngân hàng.
Nguồn vốn mà ngân hàng huy động được sẽ là cơ sở cho hoạt động sư dụng nguồn vốn của ngân hàng. Nguồn vốn huy động thường được sử dụng cho mục tiêu phát triển sản xuất hay những mục tiêu phát triển kinh tế địa phương, cũng như của đất nước. Nguồn vốn của NHTM nằm bên phải bảng cân đối kế toán bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay. Huy động nguồn vốn chủ sở hữu: Đây chính là việc gia tăng qui mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng thông qua các biện pháp huy động vốn như một doanh nghiệp tiến hành: Phát hành cổ phiếu, Tăng vốn điều lệ, Lợi nhuận giữ lại… Nguồn vốn chủ sở hữu thường dùng để tài trợ cho các Tài sản dài hạn của ngân hàng.
Huy động nguồn vốn vay: Bao gồm huy động vốn vay ngắn hạn và huy động vốn vay dài hạn thông qua các nghiệp vụ như: Nhận tiền gửi, Vay các tổ chức tín dụng và các NHTM khác, Vay của NHNN, phát hành trái phiếu ngân SV: Nguyễn Thị Bích Hằng Lớp ngân hàng K21 ( VB2) 2 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS. Vũ Duy Hào hàng, phát hành tín phiếu ngắn hạn… Khi NHTM thực hiện việc huy động nguồn vốn vay luôn phải cân nhắc tới yếu tố chi phí vốn – Lãi vay, để tiến hành lựa chọn những kênh huy động vốn phù hợp với khả năng của ngân hàng đó. Hoạt động sử dụng nguồn vốn Nguồn vốn sau huy động sẽ được NHTM tập trung lại và phân bổ sử dụng vào các mục tiêu nhằm tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, đảm bảo bù đắp được chi phí vốn. Nguyên tắc của ngân hàng là dự trữ lại một phần dưới dạng tiền, phần còn lại được sử dụng vào các dạng nghiệp vụ sinh lời nhằm tạo ra thu nhập để bù đắp chi phí hoạt động và có lãi.
Các nghiệp vụ chủ yếu bao gồm Nghiệp vụ tín dụng: đây là hoạt động chính yếu của ngân hàng và cũng là hoạt động tạo ra phần lớn thu nhập cho ngân hàng. Bản chất của nghiệp vụ tín dụng là việc ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng đối với một lượng vốn nhất định của mình cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định, khi hết hạn, khách hàng sẽ hoàn trả lại cho ngân hàng phần vốn vay ban đầu cộng với phần lãi suất. Phần lãi suất cho vay đó chính là phần thu nhập của ngân hàng. Thông thường thì thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm trên 50% thu nhập của một NHTM.
Hình thức của nghiệp vụ tín dụng bao gồm: Nghiệp vụ cho vay: Ngắn hạn, trung và dài hạn Nghiệp vụ bảo lãnh Nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu Nghiệp vụ thuê mua Nghiệp vụ đầu tư: bao gồm đâu tư vào các loại chứng khoán với hai mục tiêu chủ yếu là đảm bảo tính thanh khoản và sinh lời. Trong đó, mục tiêu đảm bảo tính thanh khoản được ưu tiên hàng đầu. Nên các NHTM thường nắm giữ những chứng khoán có độ rủi ro thấp như tín phiếu kho SV: Nguyễn Thị Bích Hằng Lớp ngân hàng K21 ( VB2) 3 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS. Vũ Duy Hào bạc,… Những loại chứng khoán này tỉ lệ sinh lời thấp nhưng tính thanh khoản của nó rất cao, tính an toàn cao, dễ bán.
Bên cạnh đó, NHTM cũng đầu tư vào các chứng khoán để sinh lời bằng cách mua bán những cổ phiếu của các doanh nghiệp có tỷ lệ sinh lời cao, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ… Trong đó, những chứng khoán có tính ổn định, dài hạn như trái phiếu chính phủ được ngân hàng giữ đến khi đáo hạn để hưởng lãi suất. Còn những cổ phiếu doanh nghiệp có tính biến động cao thì các ngân hàng sẽ sử dụng để kinh doanh mua bán trên thị trường chứng khoán để thu chênh lệch giá có lợi. Các hoạt động khác Cùng với sự phát triển của công nghệ và sự đa dạng trong nhu cầu của khách hàng, các NHTM ngày nay không ngừng đổi mới và gia tăng các hoạt động của mình bên cạnh những hoạt động truyền thống. NHTM còn cung cấp cho khách hàng một số các dịch vụ khác như: Dịch vụ thanh toán ( trong nước và quốc tế) Dịch vụ bảo quản tài sản hộ Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ Dịch vụ bảo hiểm Dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán … 1.
Hoạt động huy động nguồn tiền gửi của NHTM 1. Khái niệm huy động nguồn tiền gửi Tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền. (Ttheo luật các tổ chức tín dụng 1997) SV: Nguyễn Thị Bích Hằng Lớp ngân hàng K21 ( VB2) 4 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.
Vũ Duy Hào Huy động nguồn tiền gửi của NHTM là một trong những hoạt động huy động nguồn vốn của NHTM trên cơ sở khách hàng (tổ chức, cá nhân) chủ động, tự nguyện gửi tiền của mình (trao quyền sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình) cho NHTM sử dụng và quản lý trong một thời gian nhất định, và NHTM sẽ cam kết hoàn trả đúng hạn cho khách hàng một mức lãi suất hợp lý theo. Các hình thức huy động nguồn tiền gửi Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng của NHTM. Nó là nguồn tiền chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng. Vì thế mà các NHTM luôn chịu áp lực gia tăng và mở rộng nguồn tiền gửi của mình.
Điều này đòi hỏi hoạt động huy động nguồn tiền gửi của NHTM không ngừng thay đổi và hoàn thiện. Các hình thức huy động nguồn tiền gửi ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng vốn huy động được vì vậy việc đưa ra các hình thức huy động phù hợp, linh hoạt là điều hết sức cần thiết đối với ngân hàng. Nguồn tiền gửi được truyền tải đến ngân hàng theo nhiều kênh khác nhau: Phân loại theo đối tượng khách hàng: - Tiền gửi của cá nhân: Khách hàng cá nhân chiếm phần lớn đa số trong đối tượng hoạt động của ngân hàng. Chính vì vây, các hoạt động huy động nguồn tiền gửi đối với đối tượng khách hàng này rất đa dạng, với mục địch gửi tiền chủ yếu là tiết kiệm, bảo quản, đem lại khả năng sinh lời cho mình.
Điều này đã đem lại cho ngân hàng số tiền nhàn rỗi lớn và ổn định để thực hiện các hoạt động đầu tư của mình một cách hiệu quả. - Tiền gửi của doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác: Lượng tiền gửi của các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế cũng chiếm một tỷ trọng lớn. Tuy nhiên mục địch gửi tiền của đối tượng này khác so với khách hàng cá nhân. Mục đích của đối tượng khách hàng này là dùng để thanh toán cũng như tiến hành các giao dịch khác.
Số còn lại nhàn rỗi sẽ được gửi để hưởng lãi nếu doanh nghiệp gửi SV: Nguyễn Thị Bích Hằng Lớp ngân hàng K21 ( VB2) 5 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS. Vũ Duy Hào tiền gửi có kỳ hạn. Do đó, ngân hàng chỉ sử dụng được một phần nhỏ trong lượng vốn huy động được đó là số du trên tài khoản của các doanh nghiệp. - Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác: Với những ngân hàng có lượng vốn huy động lớn có thể đem gửi tại các ngân hàng khác nhằm mục đích hưởng một phần lãi.
Điều này giúp NHTM giảm bớt một phần chi phí , đem lại lợi nhuận cao hơn cho ngân hàng. Phân loại theo mục đích huy động: - Tiền gửi thanh toán: là loại hình tiền gửi không kỳ hạn được sử dụng với mục đích chủ yếu là thực hiện các giao dịch thanh toán qua Ngân hàng bằng các phương tiện thanh toán như: séc lĩnh tiền mặt, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, chuyển tiền điện tử.nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán nhanh nhất của quý khách. Có thể hiểu, đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhận gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữa và thanh toán hộ. Ngân hàng sẽ mở cho khách hàng tài khoản thanh toán.
Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện. Các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể được nhập vào tiền gửi thanh toán theo yêu cầu. Nhìn chung, lãi suất của khoản tiền này rất thấp (hoặc bằng 0), thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức chi phí thấp. Do tính linh hoạt của tiền gửi giao dịch, số dư tiền gửi không ổn định và biến động nhanh.
- Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội: là loại hình tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức, doanh nghiệp không dùng vào mục đích thanh toán mà để hưởng lãi suất mà ngân hàng sẽ chi trả sau một khoảng thời gian nhất định. Khi cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng để làm thủ tục rút tiền ra. Để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu gửi tiền của khách hàng, ngân hàng đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau với mức lãi suất thích hợp để thu hút và tối đa hóa lượng tiền gửi. Nguồn này thường có kỳ hạn xác định trước với một lãi suất SV: Nguyễn Thị Bích Hằng Lớp ngân hàng K21 ( VB2) 6 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.
Vũ Duy Hào cao hơn so với lãi suất của tiền gửi thanh toán. Có thể nói đây là nguồn vốn có chi phí cao nhất của ngân hàng.