CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về phương pháp xác định chi phí đào tạo trong trường đại học 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, vấn đề nghiên cứu phương pháp xác định CPĐTở các trường đại học đã được đề cập bởi nhiều nghiên cứu với các giác độ khác nhau, nhưng nhìn chung đều liên quan đến hai nội dung cơ bản là: (i) Yêu sử dụng thông tin CPĐT; và (ii) Phương pháp xác định CPĐT. Việc phân chia các hướng nghiên cứu này chỉ mang tính chất tương đối vì nội dung nghiên cứu và những đóng góp giữa các nhóm có sự đan xen với nhau.Yêu cầu sử dụng thông tin chi phí đào tạo trong trường đại học Trên phương diện chung của các đơn vị cung cấp dịch vụ, thông tin chi phí do bộ phận kế toán cung cấp là cơ sở quản lý để ra quyết định, nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị.
Bằng cách sử dụng thông tin chi phí, đơn vị có thể phân bổ nguồn lực của mình cho các khu vực có lợi hơn và xem chi phí bắt nguồn từ đâu và như thế nào(Vanderbeck, 2012). Đối với các trường đại học, yêu cầu thông tin CPĐTtrong công tác quản trị đại học nói chung và ra quyết định nói riêng cũng đã được một số tác giả đề cập, với sự ghi nhận về yêu cầu một hệ thống kế toán chi phí hiệu quả đảm bảo cho các quyết định đúng đắn và phân bổ các nguồn lực tốt hơn (Goddard & Ooi, 1998).Trong điều kiện các trường đại học thực hiện cơ chế tự chủ tài chính và hoạt động theo phương châm đáp ứng nhu cầu xã hội - thực chất là nhu cầu thị trường, việc cung cấp dịch vụ đào tạo cần thiết phải thể hiện được sự bù đắp chi phí và các khoản lãi (lỗ) cho tất cả các khóa học để quản lý các nguồn lực của tổ chức được tốt hơn. Nhận thức được yêu cầu về đổi mới hệ thống kế toán chi phí, nhiều nghiên cứu đã phát triển lý luận về kế toán quản trị (KTQT) chi phí đào tạo cho các trường đại học (Hans, 1996; Ernst & Young, 1998; 2000). Maria(2010) nhấn mạnh rằng các trường ĐHCL ở Bồ Đào Nha phải tổ chức hệ thống kế toán chi phí như là một công cụ quản lý quan trọng để quản lý và kiểm 10 soát CPĐT cũng như lợi nhuận từ kết quả hoạt động.
Nhìn từ giác độ quản lý vĩ mô, hệ thống kế toán chi phí này cần thiết phải cung cấp thông tin chi phí chi tiết cho từng hoạt động và đây là cơ sở quan trọng cho việc phân tích tình hình của nền kinh tế, hiệu quả và hiệu lực của chi tiêu công trong ngành giáo dục. Hơn nữa, do đặc điểm của hoạt động đào tạo là theo năm học dẫn đến việc thông tin về CPĐT được xác định theo năm tài chính không trùng với quá trình thực hiện kinh tế. Do vậy, việc ra quyết định quản lý trong phạm vi trường đại học và hỗ trợ cho công tác phân tích, đánh giá ở tầm vĩ mô trở nên khả thi hơn khi một hệ thống kế toán chi phí hiệu quả trong trường đại học được thiết lập. Nghiên cứu của Cropper & Cook (2000) đã chỉ ra rằng có nhiều trường đại học không hài lòng với hệ thống kế toán chi phí hiện tại của họ, và họ đang tìm cách để thay thế chúng.
Hội đồng Quản trị giáo dục đại học Washington (Higher Education Coordinating Board - HECB) cũng đã định nghĩa CPĐT và đưa ra hướng dẫn chi tiết các bước xác định CPĐT trong các trường đại học (HECB, 2005). Trong khi đó, Tập đoàn Tư vấn Allen (ACG) ở Astralia lại làm rõ khái niệm về chi phí nghiên cứu ở các trường đại học và hướng dẫn việc phân bổ chi phí gián tiếp cho các nghiên cứu được tài trợ bởi Học bổng cạnh tranh Australia (ACG, 2009). Hệ thống kế toán nói chung và KTQT chi phí nói riêng ở một trường đại học được coi là tập hợp các yếu tố kết hợp chặt chẽ với nhau như: hệ thống chỉ số cân bằng, đo lường thực hiện, phân loại chi phí, tính toán, kiểm soát nội bộ, quản lý sổ kế toán, phân tích quản lý và thông tin phục vụ cho các quyết định quản lý (Ekaterina, 2010). Trong nghiên cứu về tổ chức cung cấp thông tin quản lý và kiểm soát nội bộ trong các trường đại học ở Jordan, Al-Tarawneh & Mubaslat (2011) cũng đã chỉ ra sự thiếu vắng của KTQTchi phí đào tạo và các trường chỉ tập trung vào hệ thống kiểm soát.
Tương tự, Carlotta & cộng sự (2012) trên cơ sở khảo sát các trường đại học ở Ý trong các năm 2008-2009 đã kết luận rằng hầu hết các trường đại học ở nước này đều có nhu cầu áp dụng hệ thống KTQT chi phí tiên tiến để thay cho kế toán chi phí truyền thống. Ở một khía cạnh khác, Asta (2011) cho rằng chất lượng đào tạo rất quan trọng đối với chiến lược của các trường đại học nhằm giảm CPĐT, tăng lợi nhuận và nâng cao lợi thế cạnh tranh. Qua đó, tác giả đã đề xuất mô hình KTQT chi phí đào tạo thông qua việc XĐCP chất lượng trong các trường đại học ở Litva. Trong khi đó, Thomas & Anna-Lena (2013) khuyến cáo rằng các trường đại học nên tính 11 đủ CPĐT để đảm bảo bền vững tài chính và hướng dẫn quy trình tính đủ chi phí trên cơ sở áp dụng các công cụ của KTQT để xác định CPĐT.
Thừa nhận lợi ích to lớn của việc tính đúng, tính đủ CPĐT trong các trường đại học, các tác giả Ayman & cộng sự (2014), Steven & cộng sự (2014), Mamontova & Novak (2015) đã tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống kế toán trong các trường đại học ở Jordan để có cơ sở cải tiến hệ thống kế toán nhằm nâng cao chất lượng cung cấp thông tin CPĐT. Theo đó, các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống kế toán xác định CPĐT trong các trường đại học được nhận diện, bao gồm: (i) Trình độ người làm kế toán, (ii) Cơ sở vật chất kỹ thuật, (iii) Phần mềm kế toán, và (iv) Cơ sở dữ liệu. Phương pháp xác định chi phí đào tạo trong trường đại học Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phương pháp xác định CPĐT trong trường đại học. Mục tiêu chính của các nghiên cứu này là để áp dụng phương pháp XĐCP phù hợp với đặc điểm hoạt động đào tạo và điều kiện cụ thể của từng trường đại học nhằm tính đúng, tính đủ CPĐT, qua đó giúp cho nhà quản trị trong việc ra quyết định đào tạo và quản lý tốt hơn, sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực tài chính của nhà trường.
Về mặt lịch sử, Blanco Ibarra (được dẫn bởi Maria, 2020) nói rằng KTQT chi phí được coi trọng từ những năm giữa thế kỷ 20. Theo đó, mô hình chi phí trực tiếp ban đầu cho thấy chi phí trực tiếp và chi phí biến đổi là giống nhau, sau đó được mở rộng thêm các chi phí cố định gắn liền với từng sản phẩm. Đây được coi là sự thay đổi từ mô hình đơn giản hóa sang mô hình nâng cao về chi phí trực tiếp, phù hợp hơn cho việc ra quyết định. Trên cơ sở tổng hợp quá trình phát triển của hệ thống kế toán chi phí nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin cho việc ra quyết định quản lý, phương pháp XĐCPcho đến nay tạm thời được chia thành 2 loại: truyền thống và hiện đại.Các phương pháp XĐCPtruyền thống thường được biết đến với phương pháp XĐCP theo công việc (Job Order Costing) và phương pháp XĐCP theoquá trình (Process Costing) có khuynh hướng phân bổ chi phí gián tiếp dựa trên một số tiêu thức có thể dễ dàng để nhận diện và đo lường (chẳng hạn như giờ làm việc trực tiếp).
Cách phân bổ chi phí của các phương này mặc dù đơn giản và tiết kiệm nhưng có thể không chính xác bởi vì không có mối quan hệ rõ ràng giữa chi phí được xác định và quá trình tiêu hao nguồn lực nên có thể làm cho kết quả phân bổ chi phí gián tiếp không chính 12 xác.Cụ thể, theo Jamalludin (2013), hạn chế cố hữu của các phương pháp XĐCP truyền thống gồm: (1) Việc tập hợp chi phí theo các tài khoản hạch toán không phản ánh đúng bản chất của các nguồn lực làm phát sinh chi phí, ví dụ như chi phí tiền lương của một giảng viên dạy các học phần khác nhau với các tín chỉ khác nhau và trong các chương trình đào tạo khác nhau nhưng lại được tập hợp chung như chi phí trực tiếp và sau đó chia đều theo học phần; và (2) Việc sử dụng các cơ sở để phân bổ chi phí gián tiếp cho các hoạt động, ví dụ như chi phí khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) hoặc tiền điện dùng chung, có nhiều điểm chưa cho thấy tính hợp lý khi gộp toàn bộ chi phí gián tiếp dùng chung trong trường đại học. Trong khi đó, phương pháp XĐCP hiện đại được biết đến như phương phápXĐCP dựa theo hoạt động (Activity-Based Costing - ABC) lại sử dụng nhiều tiêu thức phân bổ khác nhau (mỗi trung tâm hoạt động có yếu tố dẫn dắt chi phí(cost driver) riêng, chi phí phát sinh và được tập hợp theo trung tâm hoạt động đó) để phân bổ chi phí. Cách phân bổ chi phí gián tiếp như vậy cho phép tính toán chi phí chính xác hơn, nhưng nó cũng làm tăng khối lượng công việc và đòi hỏi các điều kiện hỗ trợ tính toán khắt khe hơn (Nitin & Dalgobind, 2013). Như vậy, mỗi loại phương pháp XĐCP dù là truyền thống hay hiện đại đều có ưu điểm và hạn chế riêng.
Tuy nhiên, những hạn chế mang tính xu hướng của các phương pháp XĐCP truyền thống đã làm ảnh hưởng đến sự chính xác của thông tin giá thành sản phẩm và dịch vụ, do đó có thể dẫn đến việc ra quyết định chiến lược không phù hợp (Johnson & Kaplan, 1987; Johnson, 1991; Cokins, 1996). Hơn nữa, kịch bản kinh doanh ở thời kỳ cũ mà các phương pháp XĐCP truyền thống được phát triển và sử dụng không còn là xu hướng kinh doanh ở hiện tại.Việc sử dụng chi phí tiêu chuẩn trong các phương pháp XĐCP truyền thống thường được thiết kế cho một công ty có: i) Sản phẩm đồng nhất; ii) Các chi phí trực tiếp lớn so với chi phí gián tiếp; iii) Hạn chế về khả năng thu thập dữ liệu; và iv) Mức độ cạnh tranh thấp.