Chương 1. Cơ sở lý luận về giám sát hồ sơ tín dụng của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại các Ngân hàng thương mại 9 Chương 2. Thực trạng giám sát hồ sơ tín dụng các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, Chi nhánh Hàm Long Chương 3. Định hướng và giải pháp tăng cường giám sát hồ sơ tín dụng của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, Chi nhánh Hàm Long.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT HỒ SƠ TÍN DỤNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm và vai trò của giám sát HSTD tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm giám sát HSTD tại Ngân hàng thương mại Trong từ điển Tiếng Việt, “giám sát” được hiểu là “sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sau những điều đã quy định” hoặc được hiểu là “theo dõi và kiểm tra có thực hiện đúng những quy định không”. Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
HSTD tại ngân hàng bao gồm: - Hồ sơ pháp lý - Hồ sơ tài chính - Hồ sơ bảo đảm tiền vay - Hồ sơ cấp tín dụng - Hồ sơ quản lý sau vay Hiện chưa có khái niệm chính thức về giám sát HSTD tại Ngân hàng thương mại nhưng theo tôi, giám sát HSTD có thể được hiểu là: Giám sát HSTD tại Ngân hàng thương mại là hoạt động giám sát tính tuân thủ quy định của pháp luật và ngân hàng cũng như chất lượng HSTD sau khi khoản vay được giải ngân nhằm phát hiện kịp thời các vấn đề hiện hữu hoặc tiềm ẩn, từ đó đưa ra các biện pháp chấn chỉnh kịp thời các sai phạm cũng như những rủi ro tín dụng có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ sau này. Giám sát tín dụng chính là một trong các nội dung của hoạt động của quản lý rủi ro tín dụng. Quản lý rủi ro tín dụng là tổng thể quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động tín dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh bảo, đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa 11 việc không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn. Quá trình này xuyên suốt quy trình tín dụng, trong khi đó, giám sát HSTD là hoạt động của ngân hàng sau khi khoản vay đã được giải ngân.
Cần phân biệt giám sát HSTD và hoạt động kiểm toán nội bộ. Tại khoản 2 Điều 3 của Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài “kiểm toán nội bộ là việc rà soát, đánh giá độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm soát nội bộ, đánh giá độc lập về tính thích hợp và tuân thủ quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, góp phần bảo đảm tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật”. Hoạt động kiểm toán nội bộ nhằm hạn chế và kiểm soát những rủi ro có thể phát sịnh trong suốt quá trình nghiệp vụ và hoạt động của ngân hàng. Kiểm toán nội bộ các HSTD sau khoản vay được giải ngân chính là một trong những hoạt động giám sát HSTD của ngân hàng.
Dấu hiệu cảnh báo rủi ro tín dụng từ HSTD Theo khoản 1 Điều 2 quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN “"Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng" (sau đây gọi tắt là "rủi ro") là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Trong quá trình giám sát tín dụng, có thể phát hiện những rủi ro tín dụng theo các dấu hiệu sau: 12 * Từ báo cáo tài chính: - Tài khoản phải thu hay hàng tồn kho tăn/giảm không bình thường. - Hệ số đòn bẩy tăng. - Thất lạc hồ sơ, đặc biệt là các báo cáo tài chính.
- Chất lượng tài sản đảm bảo giảm. - Dựa vào đánh giá lại tài sản để tăng vốn chủ sở hữu của khách hàng. - Thiếu báo cáo lưu chuyển tiền tệ hay dự báo luồng tiền. - Ngân hàng không nhận được cáo báo cáo tài chính từ người vay một cách kịp thời.
- Tiền mặt của khách hàng giảm đột biến, khách hàng không có sự giải thích hợp lý. - Khả năng thanh khoản/vốn lưu động giảm. - Những thay đổi nhanh chóng của tài sản cố định - Xuất hiện những khoản nợ mà công ty vay hoặc cho vay cán bộ hoặc cổ đông của công ty. - Doanh số bán hàng giảm hoặc gia tăng một cách nhanh chóng - Mức độ chênh lệch lớn giữa tổng doanh thu và doanh thu ròng - Doanh thu tăng nhưng lợi nhuận giảm - Xuất hiện các khoản lỗ từ hoạt động kinh doanh * Từ hoạt động kinh doanh: - Thay đổi hoặc mở rộng phạm vi kinh doanh.
- Quan hệ với các đối tác bạn hàng truyền thống có dấu hiệu thay đổi hoặc nhận được phản hồi không tốt từ các đối tác này. - Mất những dây chuyền sản xuất chính, quyền phân phối sản phẩm hoặc nguồn cung cấp. - Mất một hay nhiều khách hàng có năng lực tài chính tốt hoặc nhà cung ứng chính. 13 - Sự thay đổi đáng kể về giá trị của đơn đặt hàng hoặc hợp đồng mà có thể làm mất năng lực sản xuất hiện hành.
* Những dấu hiệu liên quan đến giao dịch ngân hàng: - Trả nợ vay không đúng kỳ hạn hoặc thất thường, đặc biệt là xuất hiện các khoản nợ lãi khách hàng phải trả hàng kỳ, điều này chỉ rõ khách hàng vay đang gặp vấn đề tài chính. - Số dư tài khoản tại ngân hàng giảm, các ngân hàng khi đồng ý cấp tín dụng cho khách hàng, thường yêu cầu khách hàng có hoạt động chuyển tiền của các hợp đồng đầu ra được ngân hàng tài trợ vốn đầu vào về tài khoản của khách hàng mở tại ngân hàng, đây là một trong nhưng cách ngân hàng kiểm soát được một phần doanh thu hoặc nguồn tiền về của khách hàng, từ đó xác định được hiệu quả của phương án tài trợ vốn cho khách hàng. Từ đó đánh giá được nguồn tiền trả nợ của khách hàng có đảm bảo hay không. - Xuất hiện khoản nợ quá hạn, thông thường đây là dấu hiệu rõ ràng nhất rủi ro tín dụng của khách hàng.
Trường hợp khách hàng có nhiều khoản vay nhưng xuất hiện một hoặc một vài khoản vay nợ quá hạn, ngân hàng cần nhanh chóng phân tích đánh giá lại tất các khoản vay của khách hàng, từ đó đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời. - Xin gia hạn nhiều lần hoặc đảo nợ nhiều lần. Đối với các khoản vay này, rõ ràng hoạt động tài chính của khách hàng đang gặp khó khăn lớn. Các khoản vay này thường được các ngân hàng giám sát chặt chẽ và xem xét việc gia hạn hoặc đảo nợ cho khách hàng là cần thiết hay không.
Trong quá trình giám sát, nếu phát hiện khách hàng mất hoàn toàn khả năng trả nợ, ngân hàng không đồng ý gia hạn mà thường đưa ra các biện pháp xử lý mạnh tay hơn hoặc trích lập dự phòng cho khoản vay thuộc nhóm nợ có khả năng mất vốn. - Xuất hiện các khoản vay có nhiều nguồn trả nợ (như theo đề nghị vay vốn) nhưng không dễ dàng nhận thấy chúng. 14 - Công tác kế hoạch hoá tài chính cho các nhu cầu về tài sản cố định hoặc về vốn lưu động thể hiện sự đơn giản và kém cỏi. * Những dấu hiệu liên quan đến quản trị công ty: - Báo cáo và quản lý tài chính kém.
- Các chức năng điều hành và phân công xử lý công việc thể hiện một sự chắp vá - Mong muốn hoặc khăng khăng đòi “đánh bạc” với kinh doanh có những rủi ro quá mức. - Đặt giá bán hàng hoá và dịch vụ một cách không thực tế - Những thay đổi trong quản lý, quyền sở hữu hoặc những nhân vật chủ chốt - Chậm trễ trong việc phản ứng lại với sự đi xuống của thị trường hoặc các điều kiện kinh tế Tuy nhiên, khi khách hàng có một trong những dấu hiệu trên thì không đáng kể. Nhưng khi một số dấu hiệu xảy ra đồng thời thì cán bộ cần xem xét, đánh giá kỹ để có thể hạn chế và giảm thiểu tác động của rủi ro tín dụng. Rủi ro trong tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại Rủi ro trong hoạt động tín dụng tài trợ XNK là một dạng rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại.
Đó là những biến cố bất thường, không mong đợi xảy ra, dẫn đến tổn thất cho ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường với xu hướng toàn cầu hoá ngày càng rõ rệt và quan hệ thương mại quốc tế ngày càng được mở rộng thì đồng thời hoạt động XNK cũng đồng thời cũng phát triển với quy mô ngày càng lớn. Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy lợi thế của các quốc gia trong quan hệ kinh tế đối ngoại với các quốc gia khác. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng của hoạt động XNK thì vai trò của ngân hàng trong việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong 15 hoạt động XNK ngày càng lớn, và cũng do vậy những rủi ro với các ngân hàng cũng ngày càng lớn hơn.
những rủi ro tín dụng tài trợ XNK là rất đa dạng và khó quản lý. Bởi vì khác với hoat động tín dụng thông thường, hoạt động tín dụng tài trợ XNK chịu tác động của nhiều yếu tố ngẫu nhiên, bất ngờ khó nắm bắt như: tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới, các cuộc khủng hoảng kinh tế chính trị ảnh hưởng rất lớn đến các quan hệ kinh tế đối ngoại, tác động trực tiếp đến tâm lý, nhu cầu cũng như nguồn cùn cấp các mặt hàng nhập khẩu.